[block id=”bo-sung-1″]

Trong quá trình tiến hóa và phát triển, con người luôn phải dựa vào các yếu tố sẵn
có trong tự nhiên. Con người với tư cách là một vật thể sống, một yếu tố của sinh quyển
đã tác động trực tiếp vào môi trường. Các hệ sinh thái tự nhiên hoặc dần chuyển thành hệ
sinh thái nhân tạo, hoặc bị tác động của con người đến mức mất cân bằng và suy thoái.
Theo “Báo cáo của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) tháng 10/2006 cho
biết, hiện tượng băng tan ở Greenland đạt tốc độ 65,6 kilômét khối, vượt xa mức tái tạo
băng 22,6 kilômét khối một năm từ tuyết rơi; Trung tâm Hadley của Anh chuyên nghiên
cứu và dự đoán thời tiết cũng dự đoán: 1/3 hành tinh sẽ chịu ảnh hưởng của hạn hán nếu
việc thay đổi khí hậu không được kiểm soát.
Những kết quả nghiên cứu được công bố vào tháng 9/2006 cho thấy, nhiệt độ thế
giới đã tăng lên với tốc độ chưa từng có trong vòng ít nhất 12.000 năm qua. Chính điều
này đã gây nên hiện tượng Trái đất nóng lên trong vòng 30 năm trở lại đây. Các nhà khoa
học cho rằng: thế kỷ vừa qua, nhiệt độ trung bình của Trái đất đã tăng thêm 1oC do việc
tích lũy các chất carbon dioxide (CO2), mêtan (CH4) và các khí thải gây hiệu ứng nhà
kính khác trong không khí (như N2O, HFCs, PFCs, SF6) – sản phẩm sinh ra từ việc đốt
nhiên liệu hóa thạch trong các nhà máy, phương tiện giao thông và các nguồn
khác.Những hiện tượng trên đều do biến đổi khí hậu gây nên.
Biến đổi khí hậu được gọi là toàn cầu vì nó diễn ra ở hầu như mọi nơi trên thế
giới. Đặc biệt, Việt Nam đứng thứ 5 trong danh sách các nước bị ảnh hưởng bởi khí hậu
toàn cầu. Vị trí địa lý của Việt Nam khiến Việt Nam rất dễ bị tổn thương trước những
biến đổi khí hậu cả về hình thái khí hậu khi mực nước biển tăng, lẫn diện tích đất canh
tác sẽ bị thu hẹp. Trong các hệ sinh thái dễ bị tổn thương thì hệ sinh thái đô thị đang đứng
trước nguy cơ đó. Vậy biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng như thế nào đến thế giới, cụ thể
hơn đến Việt Nam để từ đó con người có thể đưa ra những mô hình sinh thái, những giải
pháp nhằm ứng phó với những biến đổi đó. Câu hỏi nêu ra này chính là lí do để tôi chọn
đề tài “Biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng đến hệ sinh thái đô thị”. Nếu không có
những biện pháp phù hợp và hiệu quả để giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu, hậu quả
sẽ là khôn lường

de_tai_bien_doi_khi_hau_va_nhung_anh_huong_den_he_sinh_thai

pdf30 trang | Chia sẻ: tranhieu.10 | Ngày: 23/07/2018 | Lượt xem: 887 | Lượt tải: 3download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng đến hệ sinh thái đô thị, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

MỤC LỤC
Mở đầu ………… ………………………………………………………………………………………….2
Chƣơng 1:
Biến đổi khí hậu và những tác hại của biến đổi khí hậu ………………………….. 3
1.1. Biến đổi khí hậu là gì? ………………………………………………………………………….3
1.2. Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu ………………………………………………………..3
1.3. Các biểu hiện của biến đổi khí hậu ………………………………………………………..4
1.4. Các dạng phổ biến của biến đổi khí hậu………………………………………………….4
1.5. Hậu quả của biến đổi khí hậu ………………………………………………………………..7
1.5.1. Các hệ sinh thái bị phá hủy ………………………………………………………………..7
1.5.2. Mất đa dạng sinh học ………………………………………………………………………..7
1.5.3. Chiến tranh và xung đột ……………………………………………………………………8
1.5.4. Các tác hại đến kinh tế ……………………………………………………………………..8
1.5.5. Dịch bệnh ………………………………………………………………………………………..9
1.5.6. Hạn hán . ………………………………………………………………………………………….9
1.5.7. Bão lụt .. ………………………………………………………………………………………..10
1.5.8. Những đợt nắng nóng gay gắt …………………………………………………………..11
1.5.9. Các núi băng và sông băng đang teo nhỏ ……………………………………………11
1.5.10. Mực nước biển đang dâng lên …………………………………………………………12
Chƣơng 2:
Những ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái đô thị. ……………….13
2.1. Hệ sinh thái đô thị là gì? ……………………………………………………………………..13
2.2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các HST đô thị …………………………….13
2.2.1. Nguy cơ mất nơi ở do mực nước biển dâng cao và hiện tượng sa mạc hóa.13
2.2.2. Ngập lụt ngày càng nghiêm trọng hơn ……………………………………………….14
2.2.3. Hiệu ứng đảo nhiệt đô thị …………………………………………………………………16
2.2.4. Mưa acid phá hủy các công trình – kiến trúc đô thị ……………………………..17
2.2.5. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến con người ………………………………….18
Chƣơng 3:
Mô hình – Giải pháp sinh thái ngăn ngừa ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu … 23
3.1. Sử dụng hệ thống cây xanh …………………………………………………………………23
3.2. Xây dựng đô thị sinh thái ……………………………………………………………………23
3.3. Khuyến khích sử dụng và phát triển năng lượng tái tạo ………………………….24
Chƣơng 4:
Kết luận ……… ………………………………………………………………………………………..29
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[SVTH: Trần Tuấn Hiệp] Page 2
MỞ ĐẦU
Trong quá trình tiến hóa và phát triển, con người luôn phải dựa vào các yếu tố sẵn
có trong tự nhiên. Con người với tư cách là một vật thể sống, một yếu tố của sinh quyển
đã tác động trực tiếp vào môi trường. Các hệ sinh thái tự nhiên hoặc dần chuyển thành hệ
sinh thái nhân tạo, hoặc bị tác động của con người đến mức mất cân bằng và suy thoái.
Theo “Báo cáo của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) tháng 10/2006 cho
biết, hiện tượng băng tan ở Greenland đạt tốc độ 65,6 kilômét khối, vượt xa mức tái tạo
băng 22,6 kilômét khối một năm từ tuyết rơi; Trung tâm Hadley của Anh chuyên nghiên
cứu và dự đoán thời tiết cũng dự đoán: 1/3 hành tinh sẽ chịu ảnh hưởng của hạn hán nếu
việc thay đổi khí hậu không được kiểm soát.
Những kết quả nghiên cứu được công bố vào tháng 9/2006 cho thấy, nhiệt độ thế
giới đã tăng lên với tốc độ chưa từng có trong vòng ít nhất 12.000 năm qua. Chính điều
này đã gây nên hiện tượng Trái đất nóng lên trong vòng 30 năm trở lại đây. Các nhà khoa
học cho rằng: thế kỷ vừa qua, nhiệt độ trung bình của Trái đất đã tăng thêm 1oC do việc
tích lũy các chất carbon dioxide (CO2), mêtan (CH4) và các khí thải gây hiệu ứng nhà
kính khác trong không khí (như N2O, HFCs, PFCs, SF6) – sản phẩm sinh ra từ việc đốt
nhiên liệu hóa thạch trong các nhà máy, phương tiện giao thông và các nguồn
khác.Những hiện tượng trên đều do biến đổi khí hậu gây nên.
Biến đổi khí hậu được gọi là toàn cầu vì nó diễn ra ở hầu như mọi nơi trên thế
giới. Đặc biệt, Việt Nam đứng thứ 5 trong danh sách các nước bị ảnh hưởng bởi khí hậu
toàn cầu. Vị trí địa lý của Việt Nam khiến Việt Nam rất dễ bị tổn thương trước những
biến đổi khí hậu cả về hình thái khí hậu khi mực nước biển tăng, lẫn diện tích đất canh
tác sẽ bị thu hẹp. Trong các hệ sinh thái dễ bị tổn thương thì hệ sinh thái đô thị đang đứng
trước nguy cơ đó. Vậy biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng như thế nào đến thế giới, cụ thể
hơn đến Việt Nam để từ đó con người có thể đưa ra những mô hình sinh thái, những giải
pháp nhằm ứng phó với những biến đổi đó. Câu hỏi nêu ra này chính là lí do để tôi chọn
đề tài “Biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng đến hệ sinh thái đô thị”. Nếu không có
những biện pháp phù hợp và hiệu quả để giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu, hậu quả
sẽ là khôn lường.
[SVTH: Trần Tuấn Hiệp] Page 3
CHƢƠNG 1:
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NHỮNG TÁC HẠI CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1. Biến đổi khí hậu là gì?
 “Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ
quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên
và nhân tạo”.
Môi trƣờng trƣớc đây Môi trƣờng hiện tại
 “Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra
những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của
các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế –
xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.(Theo công ước chung của LHQ về
biến đổi khí hậu).
1.2. Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu:
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt động
tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà
kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Nhằm hạn chế sự
biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ
yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6.
 CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí
nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển. CO2 cũng sinh ra từ các hoạt động
công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép.
 CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống
khí, dầu tự nhiên và khai thác than.
[SVTH: Trần Tuấn Hiệp] Page 4
 N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp.
 HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là sản
phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22.
 PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm.
 SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê.
1.3. Các biểu hiện của biến đổi khí hậu:
 Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung.
 Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của
con người và các sinh vật trên Trái đất.
 Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp,
các đảo nhỏ trên biển.
 Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau
của Trái đất dẫn tới nguy cơđe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt
động của con người.
 Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần
hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.
 Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của
thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển.
1.4. Các hiện tƣợng phổ biến của biến đổi khí hậu:
 Hiệu ứng nhà kính: “Kết quả của sự của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng
giữa trái đất với không gian xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái
đất được gọi là Hiệu ứng nhà kính”. Hiệu ứng nhà kính, dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi
năng lượng bức xạ của tia sáng mặt trời, xuyên qua các cửa sổ hoặc mái nhà bằng kính,
được hấp thụ và phân tán trở lại thành nhiệt lượng cho bầu không gian bên trong, dẫn đến
việc sưởi ấm toàn bộ không gian bên trong chứ không phải chỉ ở những chỗ được chiếu
sáng.
[SVTH: Trần Tuấn Hiệp] Page 5
 Mưa axit: Mưa acid là mưa có tính acid do một số chất khí hòa tan trong nước
mưa tạo thành các acid khác nhau. Trong tự nhiên, mưa có tính acid chủ yếu vì trong
nước mưa có CO2 hòa tan (từ hơi thở của động vật và có một ít Cl- (từ nước biển) và có
độ pH < 5. Là sự lắng đọng thành phần axít trong những cơn mưa, sương mù, tuyết, băng,
hơi nước
 Thủng tầng ô zôn: Ozon là một chất khí có trong thiên nhiên, nằm trên tầng cao
khí quyển của Trái đất, ở độ cao khoảng 25km trong tầng bình lưu, gồm 3 nguyên tử oxy
(O3). Chất khí ấy tập hợp thành một lớp bao bọc quanh hành tinh thường được gọi là tầng
Ozon. Tầng ozon như lớp áo choàng bảo vệ Trái đất trước sự xâm nhập và phá hủy của
tia tử ngoại. Tầng ozon là lớp lọc bức xạ mặt trời, một phần lớp lọc này bị mất sẽ làm cho
bề mặt Trái đất nóng lên. Chiếc áo choàng quý giá ấy bị “rách” cũng có nghĩa sự sống
của muôn loài sẽ bị đe dọa.
 Cháy rừng: Nhiệt độ tăng cao, đất đai khô cằn và nhiều cánh rừng lớn biến thành
tro bụi – những hiện tượng bất thường này không còn bó hẹp ở một số quốc gia hay khu
vực mà đang xảy ra hầu khắp trên thế giới. Từ vùng rừng Taiga ở Sibérie của Nga đến
khu rừng Rockies rộng lớn ở Canada, miền Nam California (Mỹ) và Australia, các nhà
[SVTH: Trần Tuấn Hiệp] Page 6
khoa học đã tìm thấy những bằng chứng rõ ràng cho thấy tình trạng cháy rừng tràn lan
hiện nay có nguồn gốc từ sự biến đổi khí hậu.
 Sa mạc hóa: là hiện tượng suy thoái đất đai ở những vùng khô hạn, bán khô hạn,
vùng ẩm nửa khô hạn, gây ra bởi sinh hoạt con người và biến đổi khí hậu.Ở Việt Nam,
mất rừng là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hoang mạc hoá, gây suy thoái môi trường, lũ lụt
và hạn hán.
 Hiện tượng sương khói: Sương khói là một sự cố môi trường, xảy ra do sự kết hợp
sương với khói và một số chất gây ô nhiễm không khí khác. Sương khói thường tạo ra
nhiều chất gây ô nhiễm thứ cấp có hại cho động thực vật và môi trường nói chung.
[SVTH: Trần Tuấn Hiệp] Page 7
1.5. Hậu quả của biến đổi khí hậu.
1.5.1 Các hệ sinh thái bị phá hủy:
Biến đổi khí hậu và lượng carbon dioxide ngày càng tăng cao đang thử thách các
hệ sinh thái của chúng ta. Các hậu quả như thiếu hụt nguồn nước ngọt, không khí bị ô
nhiễm nặng, năng lượng và nhiên liệu khan hiếm, và các vấn đề y tế liên quan khác
không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của chúng ta mà còn là vấn đề sinh tồn.
San hô bị tẩy trắng do nước biển ấm lên chỉ là một trong rất nhiều tác hại của biến
đổi khí hậu đến các hệ sinh thái.
1.5.2 Mất đa dạng sinh học
Nhiệt độ trái đất hiện nay đang làm cho các loài sinh vật biến mất hoặc có nguy cơ
tuyệt chủng. Khoảng 50% các loài động thực vật sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vào
năm 2050 nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4 độ C nữa. Sự mất mát này là do
mất môi trường sống vì đất bị hoang hóa, do nạn phá rừng và do nước biển ấm lên. Các
nhà sinh vật học nhận thấy đã có một số loài động vật di cư đến vùng cực để tìm môi
trường sống có nhiệt độ phù hợp.
Ví dụ như là loài cáo đỏ, trước đây chúng thường sống ở Bắc Mỹ thì nay đã
chuyển lên vùng Bắc cực.Và dĩ nhiên con người cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng.
Tình trạng đất hoang hóa và mực nước biển đang dâng lên cũng đe dọa đến nơi cư trú của
chúng ta. Và khi cây cỏ và động vật bị mất đi cũng đồng nghĩa với việc nguồn lương
thực, nhiên liệu và thu nhập của chúng ta cũng mất đi.
Cáo Bắc cực
[SVTH: Trần Tuấn Hiệp] Page 8
1.5.4 Chiến tranh và xung đột
Lương thực và nước ngọt ngày càng khan hiếm, đất đai dần biến mất nhưng dân số
cứ tiếp tục tăng; đây là những yếu tố gây xung đột và chiến tranh giữa các nước và vùng
lãnh thổ. Do nhiệt độ trái đất nóng lên và biến đổi khí hậu theo chiều hướng xấu đã dần
làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Một cuộc xung đột điển hình do biến đổi
khí hậu là ở Darfur. Xung đột ở đây nổ ra trong thời gian một đợt hạn hán kéo dài, suốt
20 năm vùng này chỉ có một lượng mưa nhỏ giọt và thậm chí nhiều năm không có mưa,
làm nhiệt độ vì thế càng tăng cao. Theo phân tích của các chuyên gia, các quốc gia
thường xuyên bị khan hiếm nước và mùa màng thất bát thường rất bất ổn về an ninh.
Xung đột ở Darfur (Sudan) xảy ra một phần là do các căng thẳng của biến đổi khí
hậu.
1.5.4 Các tác hại đến kinh tế:
Các thiệt hại về kinh tế do biến đổi khí hậu gây ra cũng ngày càng tăng theo nhiệt
độ trái đất. Các cơn bão lớn làm mùa màng thất bát, tiêu phí nhiều tỉ đô la; Ngoài ra, để
khống chế dịch bệnh phát tán sau mỗi cơn bão lũ cũng cần một số tiền khổng lồ. Khí hậu
càng khắc nghiệt càng làm thâm hụt các nền kinh tế.
Lấy ví dụ, trong đợt bão hồi năm 2005, bang Louisiana (Mỹ) bị thiệt hại đến 135 tỉ
đô la, và trong mấy tháng tiếp theo, thu nhập của toàn bang giảm đến 15%.
Các tổn thất về kinh tế ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống. Người dân phải chịu
cảnh giá cả thực phẩm và nhiên liệu leo thang; các chính phủ phải đối mặt với việc lợi
nhuận từ các ngành du lịch và công nghiệp giảm sút đáng kể, nhu cầu thực phẩm và nước
sạch của người dân sau mỗi đợt bão lũ rất cấp thiết, chi phí khổng lồ để dọn dẹp đống đổ
nát sau bão lũ, và các căng thẳng về đường biên giới.
[SVTH: Trần Tuấn Hiệp] Page 9
Các cơn bão lớn gây thiệt hại kinh tế đến hàng trăm tỉ đô la.
1.5.5 Dịch bệnh:
Nhiệt độ tăng cùng với lũ lụt và hạn hán đã tạo điều kiện thuận lợi cho các con vật
truyền nhiễm như muỗi, ve, chuột, sinh sôi nảy nở, truyền nhiễm bệnh gây nguy hại
đến sức khỏe của nhiều bộ phận dân số trên thế giới. Tổ chức WHO đưa ra báo cáo rằng
các dịch bệnh nguy hiểm đang lan tràn ở nhiều nơi trên thế giới hơn bao giờ hết. Những
vùng trước kia có khí hậu lạnh giờ đây cũng xuất hiện các loại bệnh nhiệt đới. Hàng năm
có khoảng 150 ngàn người chết do các bệnh có liên quan đến biến đổi khí hậu, từ bệnh
tim do nhiệt độ tăng quá cao, đến các vấn đề hô hấp và tiêu chảy.
1.5.7 Hạn hán
Trong khi một số nơi trên thế giới chìm ngập trong lũ lụt triền miên thì một số nơi
khác lại hứng chịu những đợt hạn hán khốc liệt kéo dài. Hạn hán làm cạn kiệt nguồn
[SVTH: Trần Tuấn Hiệp] Page 10
nước sinh hoạt và tưới tiêu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền nông nghiệp của nhiều
nước. Hậu quả là sản lượng và nguồn cung cấp lương thực bị đe dọa, một lượng lớn dân
số trên trái đất đang và sẽ chịu cảnh đói khát.
Hiện tại, các vùng như Ấn Độ, Pakistan, và Châu Phi đang hứng chịu những đợt
hạn hán, lượng mưa ở các khu vực này ngày càng thấp, và tình trạng này còn tiếp tục kéo
dài trong vài thập kỷ tới. Theo ước tính, đến năm 2020, sẽ có khoảng 75 triệu đến 250
triệu người dân châu Phi thiếu nguồn nước sinh hoạt và canh tác, dẫn đến sản lượng nông
nghiệp của lục địa này sẽ giảm khoảng 50%.
1.5.7 Bão lụt:
Để dự đoán các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến thời tiết, các nhà khoa học
phải dùng đến các thiết bị hiện đại. Nhưng chẳng cần có thiết bị hiện đại cũng thấy được
những cơn bão khốc liệt đang ngày một nhiều hơn. Trong vòng chỉ 30 năm qua, số lượng
những cơn giông bão cấp độ mạnh đã tăng gần gấp đôi. Theo ước tính, chỉ riêng ở Mỹ,
trong vòng 100 năm qua (từ 1905 đến 2005), số lượng những cơn bão mạnh đã tăng
không ngừng. Nếu từ 1905 – 1930 chỉ có khoảng trung bình 3,5 cơn/năm thì con số này
là 5,1 trong khoảng 1931-1994, và lên đến 8,4 từ 1995-2005. Thực tế, năm 2010 đã vượt
quá năm 1998 về số tháng phá kỷ lục nhiệt độ cao nhất theo lịch năm (Cục Quản lý Đại
dương & Khí quyển Quốc gia Hoa Kỳ -NOAA).
Tài liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn cho thấy những
thiệt hại do bão, lũ gây ra ở Việt Nam trong hơn hai thập kỷ qua lớn nhất từ trước đến
nay là do bão, lũ gây ra năm 1996, sau đó là năm 1994 , 1986 và năm 1995, 1998, 2000
(hầu hết những năm này đều thiệt hại trên 100 triệu USD). Mức độ thiệt hại về sinh mạng
và vật chất do các cơn bão và các trận lụt lội gây ra cũng đang ở mức kỷ lục.
[SVTH: Trần Tuấn Hiệp] Page 11
1.5.8 Những đợt nắng nóng gay gắt
Đợt nắng nóng quét qua Châu Âu hồi năm 2003, 2010 đã làm thiệt mạng khoảng
hơn 40 ngàn người (theo WHO). Đó thật sự là dấu hiệu đáng báo động của những thay
đổi ngày càng tồi tệ của khí hậu. Các đợt nắng nóng khủng khiếp đang diễn ra thường
xuyên hơn gấp khoảng 4 lần so với trước đây, và dự đoán trong vòng 40 năm tới, mức độ
thường xuyên của chúng sẽ gấp 100 lần so với hiện nay. Hậu quả của các đợt nóng này là
nguy cơ cháy rừng, các bệnh tật do nhiệt độ cao gây ra, và tất nhiên là đóng góp vào việc
làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất.
Các năm từ 2001 – 2009 đều là 11 năm nóng nhất trong chuỗi số liệu đo đạc. Đáng
chú ý, sáu tháng đầu năm 2010 là một chuỗi tháng nhiệt độ toàn cầu cao nhất chưa từng
có (trong đó tháng 6 vừa qua là tháng nóng kỷ lục), bao gồm cả nhiệt độ trên đất liền và
trên biển toàn cầu kể từ năm 1980.
1.5.9 Các núi băng và sông băng đang teo nhỏ
Không cần tới những thiết bị đặc biệt để thấy rằng các sông băng và núi băng trên
thế giới đang nhỏ dần. Những lãnh nguyên bao la từng được bao phủ bởi một lớp băng
vĩnh cữu rất dày giờ đây được cây cối bao phủ. Lấy một ví dụ, các núi băng ở dãy Hy Mã
[SVTH: Trần Tuấn Hiệp] Page 12
Lạp Sơn cung cấp nước ngọt cho sông Hằng – nguồn nước uống và canh tác của khoảng
500 triệu người – đang co lại khoảng 37m mỗi năm.
1.5.10 Mực nƣớc biển đang dâng lên
Nhiệt độ ngày càng cao trên trái đất khiến mực nước biển đang dần dâng lên.
Nhiệt độ tăng làm các sông băng, biển băng hay lục địa băng trên trái đất tan chảy và làm
tăng lượng nước đổ vào các biển và đại dương.
Các nhà khoa học đã tiến hành quan sát, đo đạc và nhận thấy rằng băng ở đảo băng
Greenland đã mất đi một số lượng lớn, gây ảnh hưởng trực tiếp đến các đảo quốc hay các
quốc gia nằm ven biển. Theo ước tính, nếu băng tiếp tục tan thì nước biển sẽ dâng thêm ít
nhất 6m nữa vào năm 2100. Với mức này, phần lớn các đảo của Indonesia, và nhiều
thành phố ven biển khác sẽ hoàn toàn biến mất.
Hình ảnh băng ở Bắc Cực do vệ tinh chụp. Ảnh: NASA.
Trong suốt 30 năm qua, mực nước biển ở Việt Nam đã tăng lên 5 cm. Theo dự
đoán, mực nước biển sẽ còn tăng cao nữa khoảng 9 cm vào năm 2010, 33 cm vào năm
2050, 45 cm vào năm 2070 và 1 m vào năm 2100. Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng lớn do mực
nước biển tăng, vì những vùng đất thấp ở đồng bằng song Mê Kông và đồng bằng sông
Hồng có mật độ dân số khá cao. Do đó, ước tính rằng, mực nước biển tăng cao 1 m sẽ
khiến 10.8% dân số bị mất đất (Tài liệu làm việc của Ngân hangTthế giới, “Tác động của
mực nước biển dâng cao ở những quốc gia đang phát triển: phân tích mang tính so sánh”;
Susmita Dasgupta, Benoit Laplante, Craig Meisner, David Wheeler, and Jianping Yan;
2007.)
[SVTH: Trần Tuấn Hiệp] Page 13
CHƢƠNG 2:
NHỮNG ẢNH HƢỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HỆ SINH THÁI
ĐÔ THỊ
2.1. Hệ sinh thái đô thị là gì?
Khác với các hệ sinh thái tự nhiên khác, hệ sinh thái đô thị ngoài hai thành phần
cơ bản là hữu sinh và vô sinh, nó còn có thành phần thứ ba đó là thành phần công nghệ.
Nó bao gồm các nhà máy, cơ quan, xí nghiệp, các cơ sở sản xuất…

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng đến hệ sinh thái đô thị

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *