[block id=”bo-sung-1″]

Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tại Công ty Xây dựng và Thương mại (TRAENCO) trong những năm qua đã đạt được những thành tựu nhất định, đóng góp một phần không nhỏ vào công cuộc hiện đại hoá cơ sở hạ tầng của đất nước, làm tiền đề và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động. Bộ máy của Công ty cũng đã dần thích nghi trong cơ chế thị trường và hoạt động tương đối có hiệu quả, mọi người dù trực tiếp hay gián tiếp đều tích cực đem lại thành công bước dầu cho Công ty.
Tuy nhiên trong kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu nõi riêng, làm thế nào để nâng cao và hoàn thiện hoạt động kinh doanh mà Công ty Xây dựng và Thương mại đang rất quan tâm nghiên cứu. Từ đó đưa ra những định hướng chiến lược để đẩy mạnh sự phát triển của doanh nghiệp mình.

Tải tài liệu miễn phí - My WordPress Blog

Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại công ty xây dựng và thương mại, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

CHƯƠNG I
NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CỦA DOANH NGHIỆP
XUẤT NHẬP KHẨU TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA
I. KINH DOANH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
1. Kinh doanh thương mại quốc tế
Kinh doanh thương mại là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các doanh nghiệp của các quốc gia thông qua hành vi mua bán.
Sản xuất hàng hoá ra đời kéo theo sự phát triển của phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất. Trao đổi và lưu thông hàng hoá ngày càng phát triển cao hơn và hiện đại hơn từ trao đổi hàng hoá trong từng vùng, quốc gia tiến tới mua bán hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc gia với nhau. Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia.
Quốc gia cũng như cá nhân không thể sống riêng rẽ mà vẫn đầy đủ được. Thương mại quốc tế cho phép một quốc gia tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn có thể tiêu dùng, với ranh giới khả năng sản xuất và tiêu dùng trong nước khi thực hiện chế độ tự cung tự cấp.
Phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá ngày càng sâu sắc là tiền đề xuất hiện sự trao đổi hàng hoá. Ngày nay với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, phạm vi chuyên môn hoá ngày càng tăng thì nhu cầu của con người về hàng hoá và dịch vụ cũng không ngừng phát triển phong phú và đa dạng. Sự phụ thuộc giữa các quốc gia ngày càng chặt chẽ. Xu hướng toàn cầu hoá ngày càng tăng. Do vậy một quốc gia nếu tách khỏi môi trường thế giới thì sẽ bị tụt hậu và kém phát triển. Xuất nhập khẩu là một công cụ để giúp các quốc gia hoà nhập vào sự phát triển chung của thế giới, đẩy nhanh sự phát triển của đất nước và văn minh xã hội.
Trước hết, thương mại quốc tế xuất hiện từ sự đa dạng, sự khác nhau về điều kiện tự nhiên của sản xuất giữa các khu vực và các quốc gia. Điều đó dẫn đến một việc rất có lợi là mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất những mặt hàng cụ thể phù hợp với tài nguyên và nhân lực của mình, xuất khẩu hàng hoá của mình và nhập khẩu hàng hoá của các nước khác. Song như chúng ta đã biết, phần lớn số lượng thương mại lại thuộc về mặt hàng không xuất phát từ điều kiện tự nhiện vốn có của sản xuất. Cũng như tại sao Mỹ đã sản xuất được vô tuyến còn mua vô tuyến của Nhật.
Nhà kinh tế học David Ricordo (1887) đã trả lời câu hỏi này đầu tiên và chứng minh bằng lý thuyết “Lợi thế so sánh”. Quy luật lợi thế tương đối mạnh sự khác nhau về chi phí sản xuất, coi đó là chìa khoá của các phương thức thương mại. Lý thuyết này khẳng định một quốc gia (hoặc một cá nhân) có thể nâng cao mức sống và thu nhập thực tế cách chuyên môn hoá vào sản xuất so sánh cao nhất. Đây chính là khai thác hiệu quả kinh tế theo quy mô sản xuất.
Điều kiện để có thương mại quốc tế là trao đổi và chuyên môn hoá sản xuất trên cơ sở lợi thế so sánh. Thương mại quốc tế càng trở nên quan trọng bởi vì thương mại quốc tế luôn tác động đến phân công lao động quốc tế và chuyên môn hoá sản xuất, nó rất cần thiết cho việc chuyên môn hoá sâu để có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao trong nhiều ngành công nghiệp hiện đại . Chuyên môn hoá theo quy mô lớn làm cho chi phí sản xuất giảm. Và hiệu quả kinh tế theo quy mô sẽ được thực hiện ở từng nước trong các nước sản xuất. Mặt khác sự khác nhau về sở thích và nhu cầu của người dân ở các quốc gia cũng là nguyên nhân để có buôn bán quốc tế, ngay cả trong trường hợp hiệu quả ở hai nơi sản xuất giống hệt nhau cũng có thể diễn ra sự trao đổi, buôn bán do sở thích khác nhau.
Trong điều kiện của thế giới hiện đại khi quá trình quốc tế hoá ra đời sống trở nên sâu sắc rộng khắp, và khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã phát triển đến một trình độ cao trở thành một yếu tố không thể thiếu cho sự phát triển của nền kinh tế, cho phép có thể phân chia các giai đoạn của quá trình sản xuất ở những khâu khác nhau và phân bổ ở những vị trí khác nhau thì không một nước nào có thể đóng cửa nền kinh tế, tự mình thực hiện một chính sách biệt lập tách khỏi mối quan hệ cùng có lợi với thế giới bên ngoài. Nhận thức được điều đó Đảng và Nhà nước ta đã có những hướng đi thích hợp trong chính sách của mình. Trong nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ tám đã nhấn mạnh tầm quan trọng của nền kinh tế đối ngoại đối với nhiệm vụ ổn định và phát triển đất nước cũng như phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ.
2. Vai trò nhập khẩu nói chung và nhập khẩu vật tư – thiết bị Giao thông vận tải nói riêng trong nền kinh tế nước ta:
Nhập khẩu là một trong hai nhiệm vụ cấu thành nghiệp vụ ngoại thương xuất nhập khẩu khẩu, là một mặt hàng không thể tách khỏi nghiệp vụ ngoại thương. Có thể hiểu đó là một sự mua bán hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái sản xuất nhằm mục đích thu lợi thể hiện sự phụ thuộc, gắn bó lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, nó cũng quyết định sự sống còn đối với một nền kinh tế mà đặc biệt trong tình hình thế giới hiện nay các nước thống nhất dưới mái nhà chung, nền kinh tế quốc gia đã hoà nhập vào nền kinh tế thế giới thì vai trò của nhập khẩu càng trở nên quan trọng.
Nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong nước. Nhập khẩu để bổ sung các hàng hoá mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đáp ứng nhu cầu. Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu về những hàng hoá mà sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu.
Hai mặt nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu được thực hiện tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển nền kinh tế quốc dân, trong đó cân đối trực tiếp ba yếu tố của sản xuất: Công cụ lao động, đối tượng lao động và lao động.
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, vai trò quan trọng của nhập khẩu được thể hiện ở các khía cạnh sau:
– Tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng, từng bước công nghiệp hoá đất nước.
– Bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh tế, đảm bảo phát triển kinh tế cân đối và ổn định.
– Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. ở đây, nhập khẩu vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng, vừa đảm bảo vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động.
– Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy xuất khẩu. Sự tác động này thể hiện ở chỗ: Nhập khẩu tạo đầu vào cho sản xuất hàng xuất nhập khẩu, tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng Việt nam ra nước ngoài, đặc biệt là nước nhập khẩu.
Nhập khẩu trang thiết bị, kỹ thuật công nghệ sẽ góp phần phát triển các ngành công nghiệp và kết cấu hạ tầng, phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp chế biến và tiêu dùng, cải tạo và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng nhằm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đáp ứng mục tiêu dân giàu nước mạnh của Đảng ta. Hoạt động xuất nhập khẩu tạo ra sự chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào nước ta: Các loại máy móc thiết bị phục vụ cho ngành Giao thông vận tải được sản xuất trong nước rất ít và lạc hậu. Nhờ hoạt động nhập khẩu mà ngành Giao thông vận tải cũng như các ngành khác đã có được các loại máy móc thiết bị hiện đại phục vụ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng đường xá, cầu cống . . . . Qua đó tiếc kiệm được chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều về trình độ phát triển trong nước.
Hoạt động nhập khẩu góp phần làm đa dạng hoá mặt hàng về chủng loại, quy cách, cho phép thoả mãn nhu cầu trong nước. Nhu cầu về máy móc thiết bị ngành Giao thông vận tải rất lớn và cùng với sự phát triển của nền kinh tế nước ta thì nhu cầu này ngày càng đòi hỏi phải nhập nhiều máy móc thiết bị hiện đại để phục vụ cho ngành trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng.
Nhập khẩu còn có vai trò nhất định trong việc cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân bởi thông qua nhập khẩu, sản xuất của nước ta mới có đủ nguyên vật liệu thiết bị máy móc hoạt động, nên công nhân mới có đủ công ăn việc làm, có thu nhập ổn định. Mặt khác nhập hàng tiêu dùng làm cho cơ cấu hàng hoá lưu động trên thị trường trở nên phong phú hơn, góp phần thoả mãn nhu cầu của nhân dân về hàng hoá, đặc biệt là đối với những mặt hàng mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được.
Ngoài ra nhập khẩu còn có tác dụng kìm giữ giá cả, ổn định thị trường, làm cân đối cung cầu hạn chế sự khan hiếm hàng hoá và tình trạng leo thang giá cả.
Thực hiện nhập khẩu máy móc thiết bị vật tư và công nghệ hợp lý sẽ tạo cơ sở để tận dụng nguồn lao động dư thừa trong nước, nâng cao trình độ kỹ năng của người lao động. Thêm vào đó hàng hoá sản xuất ra từ máy móc thiết bị, công nghệ nhập khẩu có chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn. Đó là một kích thích cho cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong nước, đòi hỏi họ phải phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, phân công lao động có hiệu quả, tạo ra động lực cho sự phát triển nền kinh tế trong nước.
Chính vì hoạt động nhập khẩu đóng vai trò quan trọng như vậy mà hiện nay Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm chú trọng tới nhập khẩu, khuyến khích nhập khẩu máy móc thiết bị, vật tư công nghệ tiên tiến phục vụ cho sản xuất và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hạn chế nhập khẩu những hàng hoá xa xỉ, lãng phí ảnh hưởng xấu tới sản xuất và tiêu dùng trong nước cũng như làm mất sự cạnh tranh lành mạnh của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nước.
3. Đặc điểm của hoạt động nhập khẩu và các hình thức nhập khẩu:
3.1. Đặc điểm của hoạt động nhập khẩu:
Hoạt động nhập khẩu là hoạt động phức tạp so với hoạt động kinh doanh trong nước. Việc buôn bán ra ngoài biên giới của một đất nước đòi hỏi phải có trình độ cao hơn. Những hoạt động chủ yếu của hoạt động nhập khẩu gồm:
– Hoạt động nhập khẩu chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật như điều ước quốc tế và ngoại thương, luật quốc gia của các nước hữu quan, tập quán thương mại quốc tế.
– Các phương thức giao dịch mua bán trên thị trường quốc tế rất phong phú đó là: Giao dịch trực tiếp thông qua các mối quan hệ, giao dịch qua các trung gian giới thiệu, giao dịch tại hội chợ triển lãm và qua thông tin quảng cáo. . . .
– Mọi hoạt động nhập khẩu hàng hoá đều phải thông qua hợp đồng kinh tế.
– Các phương thức thanh toán rất đa dạng: Thanh toán bằng chuyển khoản qua Ngân hàng, thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán nhờ thu, hàng đổi hàng, tín dụng chứng từ . . . .
– Tiền tệ dùng trong thanh toán thường là ngoại tệ tự do chuyển đổi như: Đồng Đô la Mỹ, Bảng anh, đồng EURO, . . . .
– Điều kiện cơ sở giao hàng: Có rất nhiều hình thức được quy định cụ thể trong INCOTERM 2000, xong phổ biến nhất là nhập khẩu theo điều kiện FOB; CIF và CF. . .
– Kinh doanh nhập khẩu là kinh doanh trên phạm vi quốc tế nên địa bàn rộng, thủ tục phức tạp, thời gian thực hiện lâu .
– Kinh doanh nhập khẩu phục thuộc vào kiến thức kinh doanh, trình độ quản lý, trình độ nghiệp vụ ngoại thương, sự nhanh nhạy nắm bắt thông tin.
– Trong hoạt động nhập khẩu có thể xảy ra những rủi ro thuộc về hàng hoá. Để đề phòng rủi ro, có thể mua các bảo hiểm tương ứng. Chí phí bảo hiểm có thể do đơn vị nhập khẩu hay người bán trả tuỳ thuộc vào những điều khoản đã thoả trong hợp đồng.
3.2. Các hình thức nhập khẩu hiện nay:
Nhập khẩu hàng hoá là hoạt động thương mại liên quan tới việc mua bán hàng hoá với thị trường nước ngoài. Ta có thể chia thành các tiêu thức phân loại hình thức nhập khẩu sau:
Phân loại theo chủ thể hoạt động
3.2.1. Nhập khẩu uỷ thác:
Khái niệm: Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp có nhu cầu về hàng hoá cần nhập khẩu song lại không có sẵn nguồn hàng, không có nghiệp vụ kinh doanh về ngoại thương uỷ thác cho một doanh nghiệp có hoạt động chuyên doanh về ngoại thương, có nguồn hàng mà bên uỷ thác yêu cầu.
Đặc điểm:
+ Doanh nghiệp nhận uỷ thác nhập khẩu mua hàng bằng tiền, hạn ngạch (nếu có) của doanh nghiệp uỷ thác.
+ Doanh nghiệp nhận uỷ thác làm các thủ tục về giao dịch, ký hợp đồng với nước ngoài, thanh toán, thủ tục giao nhận hàng theo yêu cầu của bên uỷ thác.
+ Khi tiến hành nhập uỷ thác thì các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chỉ được tính kim ngạch xuất nhập khẩu chứ không được tính doanh số, không chịu thuế doanh số.
+ Khi nhập uỷ thác thì doanh nghiệp xuất nhập khẩu (nhập uỷ thác) phải lập hai hợp đồng:
Hợp đồng ngoại mua bán hàng hoá với nước ngoài.
Một hợp đồng uỷ thác với bên uỷ thác.
3.2.2. Nhập khẩu tự doanh:
Khái niệm: Hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng để cùng giao dịch và đề ra các chủ trương biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho cả hai bên, cùng chia lãi và cùng chịu lỗ.
* Đặc điểm:
So với nhập khẩu tự doanh thì các doanh nghiệp ít chịu rủi ro hơn bởi mỗi doanh nghiệp liên doanh nhập khẩu góp một phần vốn nhất định, quyền hạn và trách nhiệm của các bên cũng tăng lên theo số vốn góp. Việc phân chia chi phí, thuế doanh thu theo tỷ lệ vốn góp và chỉ chịu thuế doanh thu trên doanh số đó.
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải lập hai hợp đồng:
Một hợp đồng mua hàng với người nước ngoài
Một hợp đồng liên doanh với doanh nghiệp khác (không nhất thiết phải là Doanh nghiệp Nhà nước)
Ngoài ra còn có một số hình thức nhập khẩu khác:
3.2.4. Nhập khẩu hàng đổi hàng:
* Khái niệm: Nhập khẩu hàng đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai nghiệp vụ chủ yếu của buôn bán đối lưu. Nó là một hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu, thanh toán không phải dùng tiền mà là hàng hoá. ở đây, mục đích của nhập hàng không phải để chỉ thu lãi từ hoạt động nhập mà còn nhằm để xuất được hàng, thu cả lãi từ hoạt động xuất.
* Đặc điểm:
– Hoạt động này rất có lợi bởi vì cùng một lúc thu lãi được từ hai hoạt động xuất – nhập.
– Hàng hoá xuất và nhập tương đương nhau về giá trị, tính quý hiếm và cân bằng về giá cả
– Người bán đồng thời là người mua.
– Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính cả kim ngạch nhập và kim ngạch xuất, doanh số tiêu thụ trên cả hàng xuất.
– Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng: Dùng thư tín dụng đối ứng (Reciprocal Letter of Credit): Đây là một loại L/C mà trong nội dung của nó có một điều khoản quy định: L/C này chỉ có hiệu lực khi người hưởng mở 1 L/C khác có kim ngạch tương đương.
Dùng người thứ ba khống chế chứng từ sở hữu hàng hoá, người thứ ba chỉ giao chứng từ đó cho người nhận hàng khi người này đổi lại một bộ chứng từ sở hữu hàng hóa có giá trị tương đương
Nhập khẩu tái xuất:
* Khái niệm: Là hoạt động nhập hàng nhưng không phải để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang một nước thứ ba nào đó nhằm thu lợi nhuận. Những hàng nhập này không được qua chế biến ở nước tái xuất.
Kinh doanh theo phương thức tạm nhập tái xuất là mua hàng của một nước (nước xuất khẩu) để bán cho một nước khác (nước nhập khẩu) nhằm mục đích kiếm lợi, có làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá vào Việt Nam trong một thời gian nhất định rồi tái suất mà không qua gia công chế biến.
* Đặc điểm:
– Doanh nghiệp nước tái suất phải tính toán chi phí ghép mối bạn hàng xuất và bạn hàng nhập, đảm bảo sao cho có thể thu được số tiền lớn hơn tổng chi phí bỏ ra để thu được lãi khi tiến hành hoạt động.
– Hàng hoá tái nhập tái xuất phải làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát của hải quan cho tời thời điểm hàng thực xuất ra khỏi lãnh thổ Việt nam.
– Doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải lập hai hợp đồng: Một hợp đồng xuất khẩu và một một hợp đồng nhập khẩu, doanh nghiệp không phải chịu thuế xuất nhập khẩu nhưng phải chịu thuế doanh thu xuất khẩu.
– Để đảm bảo thanh toán hợp đồng của hợp đồng tạm nhập tái xuất thường dùng thư tín dụng giáp lưng (Back to back – L/C)
– Hàng hoá không nhất thiết phải chuyển về tái xuất mà có thể chuyển thẳng sang nước thứ ba, nhưng tiền do người tái xuất thu được của người nhập khẩu và trả cho người xuất khẩu.
II. NỘI DUNG CỦA NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU:
Nhập khẩu là việc giao dịch mua hàng hoá với nước ngoài nhằm phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống trong nước. Song việc mua hàng ở đây có những nét riêng phức tạp hơn mua bán trong nước như giao dịch với những người có quốc tịch khác nhau, thị trường rộng, rất khó kiểm soát, mua bán qua trung gian chiểm tỷ trọng lớn, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ mạnh, hàng hoá phải vận chuyển qua biên giới, cửa khẩu của các quốc gia khác nhau, phải tuân thủ các tập quán và thông lệ quốc tế cũng như của địa phương.
1. Nghiên cứu thị trường nhập khẩu, lựa chọn bạn hàng:
Nghiên cứu thị trường trong hoạt động nhập khẩu là một loạt các thủ tục và kỹ thuật được đưa ra để giúp các nhà nhập khẩu có đầy đủ thông tin cần thiết để từ đó tạo ra những quyết định chính xác về marketing. Nghiên cứu thị trường nhập khẩu là cả một quá trình tìm kiếm khách quan và có hệ thống cùng với việc phân tích tổng hợp các thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề marketing. Bởi vậy, nghiên cứu thị trường ngày càng đóng một vai trò để giúp các nhà kinh doanh đạt hiệu quả cao trong hoạt động nhập khẩu. Thị trường là một quá trình mà người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá mua bán. Thị trường có thể nhìn thấy được cũng có thể không nhưng nó luôn bao gồm người mua, người bán, các quan hệ mua bán và dịch vụ, dung lượng thị trường.
Để nắm vững các yếu tố của thị trường, hiểu rõ quy luật vận động của thị trường nhằm ứng xử kịp thời , các nhà nhập khẩu nhất thiết phải tiến hành công tác nghiên cứu thị trường. Nghiên cứu thị trường bao gồm những bước sau:
1.1. Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu:
Mục đích của nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu là để tiến hành nhập khẩu đúng chủng loại mà thị trường trong nước cần, kinh doanh có hiệu quả, đạt được mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Việc nhận biết mặt hàng nhập khẩu trước hết căn cứ vào nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước, về số lượng, chất lượng, tính thời vụ, thị hiếu cũng như tập quán tiêu dùng của từng vùng, từng lĩnh vực sản xuất. Từ đó tiến hành xem xét các khía cạnh của hàng hoá cần nhập khẩu như công dụng, đặc tính, quy cách, phẩm chất, mẫu mã, giá cả, điều kiện mua bán, khả năng sản xuất và các dịch vụ kèm theo . . . .
Để lựa chọn được mặt hàng nhập khẩu, một nhân tố nữa được tính đến đó là tỷ suất ngoại tệ của các mặt hàng. Trong nhập khẩu, tỷ suất ngoại tệ là tổng số tiền bản tệ có thể thu được khi chi ra một đơn vị ngoại tệ để nhập khẩu. Nếu tỷ suất ngoại tệ mặt hàng đó (ví dụ: VNĐ/USD) lớn hơn tỷ giá hối đoái trên thị trường thị việc chọn mặt hàng nhập khẩu có hiệu quả.
1.2. Nghiên cứu dung lượng thị trường:
Dung lượng thị trường khối lượng hàng hoá được giao dịch trên một phạm vị thị trường nhất định, trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Nghiên cứu dung lượng thị trường phải xác định nhu cầu thật của khách hàng và khả năng cung cấp của nhà sản xuất. Nghiên cứu dung lượng của thị trường nhằm hiểu rõ hơn về quy luật vận động của thị trường. Từ đó nhà nhập khẩu có thể giải quyết hàng loạt các vấn đề có liên quan đến thị trường.
Các nhân tố làm cho dung lượng thị trường biến động có tính chu kỳ: Là sự vận động của tình hình kinh tế các nước trên thế giới đặc biệt là những nước tư bản chủ nghĩa, tính thời vụ trong sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hoá.
Các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến dung lượng thị trường:
– Tiến bộ khoa học kỹ thuật: sự phat triển của khoa học kỹ thuật đã dẫn đến sản xuất và nhu cầu về hàng hoá được mở rộng. Đối với máy móc thiết bị vật tư, khả năng sản xuất cũng khong ngừng thay đổi, nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị vật tư ở các nước kém phát triển cũng khoong ngừng gia tăng lên làm anh r hưởng đến dung lượng thị trường.
– Các chính sách của nhà nước và các tập đoàn lũng đoạn thị trường.
– Thị hiếu, tập quán của người tiêu dùng, khả năng sản xuất hàng thay thế.
Các nhân tố ảnh hưởng tạm thời đối với dung lượng thị trường như hiện tượng đầu cơ gây ra những đột biến về cung cầu, các yếu tố tự nhiên như thiên tai, động đất, bão lụt, hạn hán…các yếu tố chính trị xã hội.
1.3 Lựa chọn bạn hàng
Trong thươn

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình nhập khẩu máy móc thiết bị tại công ty xây dựng và thương mại

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *