[block id=”bo-sung-1″]

Sản xuất nông nghiệp bên cạnh thu được sản phẩm chính như lúa gạo, còn tạo
ra một khối lượng rất lớn sản phẩm phụ nhưng giá trị rất thấp. Nhiều nước đã có nhiều
phương pháp để tăng giá trị nguồn phụ phẩm này bằng cách tận dụng nó làm phân
bón, làm chất độn trong chăn nuôi.nhưng vẫn chưa tận dụng hết giá trị của nguồn
phụ phẩm này. Hiện nay, ở một số nước như: Trung Quốc, Inđônêsia, Thái Lan đã tận
dụng nguồn phụ phẩm này để sản xuất nấm rơm mang lại giá trị rất cao, vừa tăng thu
nhập cho người nông dân, vừa cung cấp nguồn thực phẩm quý cho con người.
Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi đế sản xuất nấm đặc biệt là nấm rơm vì
hàng năm có một lượng phụ phẩm nông nghiệp rất lớn như rơm rạ, trấu lại có khí
hậu thuận lợi cho cây nấm phát triển. Hiện nay, nấm rơm được trồng ở nhiều tỉnh
mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo nâng
cao thu nhập cho người dân. Sản xuất nấm rơm vừa góp phần giải quyết việc làm, làm
giảm tình trạng thất nghiệp ở nông thôn, lại vừa tận dụng được nguồn phụ phẩm nông
nghiệp giá trị thấp, làm tăng giá trị nguồn phụ phẩm này.
Xã Phú Lương là một xã thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế có diện
tích đất tự nhiên 1788,49 ha, là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế nông nghiệp đa
dạng trong đó có nghề trồng nấm rơm . Bên cạnh việc trồng lúa nước, cây ăn quả, hoa
màu như lạc, đậu, ngô, khoai, sắn. còn có một số bộ phận đáng kể các hộ gia đình
theo nghề trồng nấm rơm nhằm đa dạng hóa cơ cấu cây trồng và tăng thu nhập. Điều
này đã góp phần phát triển kinh tế tại địa phương, giải quyết nhiệm vụ chiến lược
trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội, nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống,
tạo công ăn việc làm cho người lao động ở xã Phú Lương nói chung và các hộ gia đình
trồng nấm nói riêng.
Để tìm hiểu hiệu quả của nghành nghề mới này, tôi đã quyết định chọn đề tài:
“Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất nấm rơm tại xã Phú Lương, huyện Phú
Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”, làm đề tài tốt nghiệp của mình.

de_tai_danh_gia_hieu_qua_kinh_te_san_xuat_nam_rom_tai_xa_phu

pdf45 trang | Chia sẻ: tranhieu.10 | Ngày: 24/07/2018 | Lượt xem: 680 | Lượt tải: 1download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất nấm rơm tại xã Phú Lương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN 1
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Sản xuất nông nghiệp bên cạnh thu được sản phẩm chính như lúa gạo, còn tạo
ra một khối lượng rất lớn sản phẩm phụ nhưng giá trị rất thấp. Nhiều nước đã có nhiều
phương pháp để tăng giá trị nguồn phụ phẩm này bằng cách tận dụng nó làm phân
bón, làm chất độn trong chăn nuôi…nhưng vẫn chưa tận dụng hết giá trị của nguồn
phụ phẩm này. Hiện nay, ở một số nước như: Trung Quốc, Inđônêsia, Thái Lan đã tận
dụng nguồn phụ phẩm này để sản xuất nấm rơm mang lại giá trị rất cao, vừa tăng thu
nhập cho người nông dân, vừa cung cấp nguồn thực phẩm quý cho con người.
Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi đế sản xuất nấm đặc biệt là nấm rơm vì
hàng năm có một lượng phụ phẩm nông nghiệp rất lớn như rơm rạ, trấulại có khí
hậu thuận lợi cho cây nấm phát triển. Hiện nay, nấm rơm được trồng ở nhiều tỉnh
mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo nâng
cao thu nhập cho người dân. Sản xuất nấm rơm vừa góp phần giải quyết việc làm, làm
giảm tình trạng thất nghiệp ở nông thôn, lại vừa tận dụng được nguồn phụ phẩm nông
nghiệp giá trị thấp, làm tăng giá trị nguồn phụ phẩm này.
Xã Phú Lương là một xã thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế có diện
tích đất tự nhiên 1788,49 ha, là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế nông nghiệp đa
dạng trong đó có nghề trồng nấm rơm . Bên cạnh việc trồng lúa nước, cây ăn quả, hoa
màu như lạc, đậu, ngô, khoai, sắn… còn có một số bộ phận đáng kể các hộ gia đình
theo nghề trồng nấm rơm nhằm đa dạng hóa cơ cấu cây trồng và tăng thu nhập. Điều
này đã góp phần phát triển kinh tế tại địa phương, giải quyết nhiệm vụ chiến lược
trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội, nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống,
tạo công ăn việc làm cho người lao động ở xã Phú Lương nói chung và các hộ gia đình
trồng nấm nói riêng.
Để tìm hiểu hiệu quả của nghành nghề mới này, tôi đã quyết định chọn đề tài:
“Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất nấm rơm tại xã Phú Lương, huyện Phú
Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”, làm đề tài tốt nghiệp của mình.
Đại
học
K n
h tế
Hu
ế
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN 2
2. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài:
– Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế
– Đánh giá thực trạng sản xuất nấm rơm của các nông hộ ở xã Phú Lương
– Phân tích kết quả và hiệu quả sản xuất nấm rơm của các nông hộ điều tra ở xã
Phú Lương.
– Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, hiệu quả sản xuất
nấm rơm ở xã Phú Lương trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu:
Các hộ sản xuất nấm rơm ở xã Phú Lương.
3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Do giới hạn về thời gian cũng như kinh nghiệm thực tế
nên đề tài này tôi chỉ tập trung nghiên cứu tình hình sản xuất nấm rơm của các hộ
thuộc 3 thôn: Vĩnh Lưu, Lê Xá Đông và Đông B ở xã Phú Lương
+ Phạm vi thời gian: Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất nấm rơm ở xã Phú
Lương năm 2010.
Phương pháp nghiên cứu:
– Phương pháp so sánh: So sánh kết quả sản xuất nấm rơm của các hộ điều tra
giữa bốn mùa trong năm/lứa.
– Phương pháp thu thập thông tin, số liệu:
+ Số liệu thứ cấp: Là các số liệu đã công bố trên báo, mạng, internet và báo cáo
kết quả hàng năm của xã Phú Lương.
+ Số liệu sơ cấp: Là các số liệu được thu thập qua việc điều tra, phỏng vấn 45
hộ sản xuất nấm rơm ở 3 thôn Vĩnh Lưu, Lê Xá Đông và Đông B ở xã Phú Lương theo
phương pháp ngẫu nhiên, trên cơ sở phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân sản xuất nấm
rơm theo mẫu câu hỏi đã được chuẩn bị sẳn.
– Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Phỏng vấn các hộ, các cán bộ trong xã
Phú Lương.
– Phương pháp tổng hợp và phân tích: Tổng hợp và phân tích các số liệu thu
thập và điều tra được
Đại
học
Kin
h tế
Hu
ế
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN 3
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm và bản chất hiệu quả kinh tế
Ngày nay, trong bất kỳ một lĩnh vực sản xuất nào người ta điều luôn quan tâm
đến hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất đó. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh
tế phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất, đo lường trình độ quản lý, trình độ tổ
chức đồng thời là cơ sở tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Mọi nổ lực trong
sản xuất kinh doanh đều nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu quả kinh tế để
doanh nghiệp tồn tại, phát triển và cạnh tranh được trên thị trường. Vậy hiệu quả kinh
tế là gì ?
Theo TS. Nguyễn Tiến Mạnh thì: Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế khách
quan phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được những mục tiêu xác định.
Theo Farell (1957) và một số nhà kinh tế khác như Schultz (1964), Rizzo
(1979), Ellis (1993) thì cho rằng: Hiệu quả kinh tế được xác định bởi việc so sánh giữa
kết quả đạt được và chi phí bỏ ra (gồm nhân tài, vật lực và tiền vốn,) để đạt được kết
quả đó.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng đều thống nhất ở
bản chất của nó. Người sản xuất muốn thu được kết quả phải bỏ ra một khoản chi phí
nhất định. Đó là nhân lực, vật lực, tư liệu sản xuất, vốnTiêu chuẩn của hiệu quả kinh
tế là tối đa hoá đầu ra với một lượng đầu vào nhất định và tối thiểu hoá chi phí với một
lượng đầu ra nhất định. Các học giả trên đều cho rằng hiệu quả kinh tế là phạm trù
kinh tế mà trong đó sản xuất đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối. Điều
đó có nghĩa là khi tiến hành xem xét việc sử dụng các yếu tố nguồn lực phục vụ sản
xuất chúng ta phải tính đến cả hai yếu tố hiện vật và giá trị.
Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí
đầu vào hay nguồn lực được sử dụng vào sản xuất trong điều kiện cụ thể về nguồn lực
hay công nghệ áp dụng. Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến phương diện vật chất của sản
Đại
học
Kin
h tế
H
ế
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN 4
xuất. Nó chỉ ra rằng một đơn vị một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại them
bao nhiêu đơn vị sản phẩm.
Hiệu quả phân phối (hay còn gọi là hiệu quả về giá) là chỉ tiêu hiệu quả trong
đó cả yếu tố giá sản phẩm và giá các yếu tố đầu vào được tính đến để phản ánh giá trị
sản phẩm thu thêm được trên một đồng chi phí về đầu vào hay nguồn lực được sử
dụng. Thực chất của hiệu quả phân phối là hiệu quả kỹ thuật có tính đến giá của các
yếu tố đầu vào, giá sản phẩm bán ra. Hay nói cách khác, trên cơ sở giá cả các yếu tố
đầu vào, giá cả sản phẩm bán ra để phân bổ các yếu tố đầu vào theo tỷ lệ hợp lý để tối
đa hóa lợi nhuận thu được. Tức giá trị biên của sản phẩm sản xuất ra phải bằng giá trị
biên của các nguồn lực sử dụng vào sản xuất.
1.1.2 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là mối quan hệ tổng hòa giữa hai yếu tố hiện vật và giá trị
trong việc sử dụng nguồn lực vào sản xuất, là một phạm trù kinh tế – xã hội vừa thể
hiện tính lý luận khoa học sâu sắc, vừa là yêu cầu đặt ra của thực tiễn xã hội. Có nhiều
phương pháp để xác định hiệu quả kinh tế:
– Phương pháp 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt
được và chi phí bỏ ra. Điều đó có nghĩa là một đơn vị chi phí bỏ ra thu được bao nhiêu
đơn vị sản phẩm.
H = Q/C
Trong đó:
H: Là hiệu quả kinh tế
Q: Là khối lượng sản phẩm thu được
C: Là chi phí bỏ ra
Phương pháp này phản ánh hiệu quả sử dụng nguồn lực của cả quá trình sản
xuất kinh doanh nhất định, xem xét được một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao
nhiêu kết quả. Trên cơ sở đó người ta đánh giá hiệu quả kinh tế giữa các đơn vị sản
xuất với nhau, giữa các ngành sản phẩm khác nhau và giữa các thời kỳ khác nhau.
– Phương pháp 2: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả tăng
thêm với chi phí tăng thêm, nghĩa là nếu tăng thêm một đơn vị chi phí sẽ tăng thêm
bao nhiêu đơn vị kết quả thu được
Đại
học
Kin
h tế
Hu
ế
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN 5
H =Q/C
Trong đó:
H : Là hiệu quả kinh tế
Q : Là kết quả tăng thêm
C : Là chi phí tăng thêm
Phương pháp này giúp chúng ta xác định được hiệu quả mà một đồng chi phí
đầu tư thêm mang lại. Từ đó xác định được hiệu quả trong đầu tư thâm canh, đặc biệt
là xác định được khối lượng tối đa hóa kết quả sản xuất tổng hợp.
Tuy nhiên, khi sử dụng hai phương pháp trên ta không thấy được quy mô của
hiệu quả là bao nhiêu. Do đó khi xác định hiệu quả kinh tế, người ta thường dùng thêm
chỉ tiêu lợi nhuận hay thu nhập. Nếu chỉ sử dụng chỉ tiêu tuyệt đối thì không thể thấy
được cái giá phải trả cho quy mô của kết quả. Sử dụng tổng hợp các chỉ tiêu trên là
phương pháp tốt nhất khi đánh giá hiệu quả kinh tế.
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất nấm
– Giá trị sản xuất nông nghiệp (GO): Là toàn bộ giá trị của cải vật chất và
dịch vụ được sáng tạo ra trong nông nghiệp trong một thời gian nhất định thường là
một năm. Do đặc điểm của ngành sản xuất nấm rơm hiện nay sản xuất ra chủ yếu để
tiêu thụ nên tổng giá trị sản xuất cũng chính là doanh thu của hộ.
GO = QiPi
n
i

1
*
Trong đó:
Pi : Đơn giá/sản phẩm
Qi : Khối lượng sản phẩm thứ i
N : Số sản phẩm
– Chi phí trung gian (IC): Là một bộ phận cấu thành của sản xuất bao gồm
những chi phí vật chất và dịch vụ cho sản xuất sản phẩm nông nghiệp. Chi phí trung
gian trong sản xuất nông nghiệp bao gồm chi phí vật chất trực tiếp và chi phí dịch vụ
thuê (không kể khấu hao).
Chi phí trung gian (IC) = Chi phí vật chất + Chi phí dịch vụ (mua hoặc thuê ngoài)
Đại
học
Kin
h tế
Huế
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN 6
– Giá trị tăng thêm hay giá trị gia tăng (VA): Là chỉ tiêu phản ánh những
phần giá trị do lao động sáng tạo trong một thời kỳ nhất định. Đó chính là một bộ phận
còn lại của giá trị sản xuất sau khi trừ đi chi phí trung gian.
∑VA = ∑GO – ∑IC
– Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần còn lại của giá trị gia tăng sau khi trừ đi
khấu hao và thuế.
∑MI = ∑VA – Khấu hao – Thuế
– Năng suất: Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị diện tích gieo trồng trong một
lứa sản xuất được bao nhiêu nấm. Do đặc điểm sản xuất nấm rơm của các hộ điều tra
được tiến hành trong vòm, một vòm có thể sản xuất nhiều lứa nấm nên chúng ta tính
năng suất là:
N = Q/S
Trong đó:
N : Năng suất
Q : Sản lượng
S : Diện tích (số lứa nấm)
– VA/IC (Hiệu quả chi phí gia tăng theo giá trị gia tăng): Chỉ tiêu này mang
tính tổng hợp cho biết việc bỏ ra một đồng chi phí trung gian thu được bao nhiêu đồng
giá trị gia tăng. Đây là chỉ tiêu quan trọng để lựa chọn.
– GO/IC (Hiệu quả chi phí gia tăng theo giá trị sản xuất): Chỉ tiêu này cho
biết việc bỏ ra một đồng chi phí trung gian thu được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất.
– MI/IC (Hiệu quả chi phí gia tăng theo thu nhập hỗn hợp): Chỉ tiêu này cho
biết việc bỏ ra một đồng chi phí trung gian thu được bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp.
1.1.4 Đặc điểm kỹ thuật của cấy nấm
1.1.4.1 Đặc điểm sinh vật học của cây nấm.
Nấm rơm (còn gọi là Nấm rạ, Thảo Cô) có tên khoa học là Volvariella
voloacea, thuộc họ Phiteaceae, bộ Agaricales, lớp phụ Hymenomycetidae, lớp
Hymenomycetes, ngành phụ Basidiomycotina, ngành nấm thật – Eumycota, giới nấm –
Mycota hay Fungi (Nguyễn Lân Dũng, 2003) là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng
cao, là thực phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho con người.
Đại
học
Kin
h tế
Hu
ế
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN 7
Là một thực vật thân mềm, cây nấm có 3 phần: Phần bao gốc, phần cuống nấm
và phần mũ nấm. Trong đó, bao gốc có chức năng là chống tia tử ngoại của mặt trời,
ngăn cản sự phá hoại của côn trùng, giữ nước và ngăn sự thoát hơi nước của các cơ
quan bên trong. Do đóng vai trò bảo vệ nên thành phần dinh dưỡng của bao gốc rất ít.
Cuống nấm có vai trò là đưa mũ nấm lên cao để phát tán bao tử đi xa, vận chuyển chất
dinh dưỡng để cung cấp cho mũ nấm. Khi bào tử đã chín thì vai trò vận chuyển chất
dinh dưỡng không còn nữa. Mũ nấm là hệ sợi tơ đan chéo vào nhau, rất giàu chất dinh
dưỡng dự trữ, giữ vai trò sinh sản.
1.1.3.2 Giá trị dinh dưỡng của cây nấm
Nấm rơm còn gọi là bình cô, lan hoa cô, macô,… là một trong những loại nấm
ăn được sử dụng rộng rãi có giá trị dinh dưỡng cao với hàm lượng prôtêin cao (2,66 –
5,05%) và 19 acid amin (trong đó có 8 loại acid amin không thay thế), không làm tăng
lượng cholesterol trong máu (nguồn: mạng internet).
Trong các loai nấm thì nấm rơm là loại nấm có hàm lượng đạm khô khá cao
(43%). Thành phần dinh dưỡng của nấm rơm khá phong phú, trong 100 gam nấm rơm
khô đúng chuẩn có chứa 21 – 37 gam chất đạm, 2,1 – 4,6 gam chất béo, 9,9 gam chất
bột đường, 21 gam chất xơ, rất nhiều yếu tố vi lượng như canxi, sắt, phôtpho, các
vitamin A, B1, B2, C, D, PP ( nguồn:mạng internet). Đặc biệt trong nấm rơm, thành
phần đạm vừa nhiều vừa đầy đủ các axit amin tối thiểu cần thiết, hơn cả trong thịt bò
và đậu tương.
Với thành phần dinh dưỡng tốt như thế, từ lâu trong y học nấm rơm được chỉ rõ
là một thức ăn tuyệt vời, có thể chế biến thành nhiều “thực phẩm chức năng”, món ăn
“thuốc” để hỗ trợ chữa bệnh, đặc biệt với năm loại bệnh nội tiết chuyển hóa nổi cộm
hiện nay là: béo phì, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, xơ vữa động mạch và tăng
huyết áp (nguồn: mạng internet).
1.1.3.3 Giá trị kinh tế của cây nấm
Trồng nấm là một trong một trong nghành nghề có hiệu quả kinh tế nhất. Với
một diện tích rất nhỏ có thể tận dụng đất trong vườn do đó không mất nhiều diện tích
đất cho sản xuất, vòng vốn đầu tư quay vòng nhanh, chi phí nguyên vật liệu rẻ (chủ
yếu là tận dụng phế phẩm của nông, lâm nghiệp), và có thể tận dụng được lao động
Đại
học
Kin
h tế
Hu
ế
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN 8
trong nhà từ người già đến trẻ em nhưng vẫn cho năng suất cao. Thị trường tiêu thụ
rộng lớn với giá cả dao động theo mùa cụ thể: mùa Đông giá có thể từ 50 – 70.000
đ/kg có lúc lên tới trên 100.000 đ/kg; mùa Xuân , mùa Hạ và mùa Thu dao động từ 30
– 40.000 đ/kg. Nó mang lại một nguồn thu nhập đáng kể cho người dân ngoài thu
nhập chính từ lúa.
1.1.3.4 Giá trị xã hội
Giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn: Do đặc điểm của sản xuất nông
nghiệp có tính thời vụ cao, cho nên sẽ có một bộ phận lớn lao động nông thôn không
có việc làm lúc trái vụ. Nghề trồng nấm không những giúp giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn lúc nông nhàn mà còn tận dụng tối đa nguồn lao động gia đình như
người già, trẻ em vì công việc trồng nấm không đòi hỏi lao động quá phức tạp.
Người dân có thể tận dụng mọi thời gian rảnh rỗi của mình để làm như: ngâm rơm, ủ
rơm, đạp rơm, bỏ meo giống, chất bánh vào vòm, chăm sóc, hái nấm, thu mua,…. Nó
tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho người lao động nông thôn.
Cung cấp thực phẩm cho con người: Dân số ngày càng tăng nhanh, đời sống
của người dân ngày càng được cải thiện, do đó đòi hỏi ngày càng phải cung cấp nhiều
thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Nghề trồng nấm không những giải quyết việc
làm cho lao động nông thôn mà còn cung cấp nguồn thực phẩm làm đa dạng hơn
nguồn thực phẩm trong đời sống con người.
1.1.3.5 Giá trị môi trường
Trồng nấm giúp tận dụng các phụ phẩm trong nông nghiệp như rơm, rạ,vỏ
trấu… biến các phụ phẩm giá trị thấp này thành nguồn nguyên liệu sản xuất ra sản
phẩm có giá trị cao. Góp phần làm sạch môi trường ở nông thôn.
1.1.3.6 Kỹ thuật trồng nấm
 Yêu cầu về điều kiện sinh thái của nấm rơm:
– Dinh dưỡng: Nấm rơm là một loại nấm hoại sinh. Dinh dưỡng cần thiết cho
chúng là hợp chất cacbon, nitơ và muối vô cơ. Trong rơm, rạ, bã mía, cám trấu, vỏ
lạc,…có một nguồn cacbon và nitơ tự nhiên rất lớn có thể tận dụng để trồng nấm rơm.
– Nhiệt độ: Nhiệt độ cho sợi nấm sinh trưởng là 20 – 40oC, nhiệt độ thích hợp
cho sự hình thành quả thể là 32 – 38oC, bào tử nảy mầm ở 40oC.
Đại
học
Kin
h tế
Hu
ế
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN 9
– Độ ẩm: Độ ẩm dinh dưỡng là 70%, độ ẩm không khí là 80%. Khi quả thể phát
triển thì yêu cầu độ ẩm không khí là 85 – 90%.
– Không khí: Nấm rơm sinh trưởng yêu cầu đủ ôxy, khí CO2 vượt quá 1% ức
chế hình thành quả thể.
– Độ chua: Yêu cầu pH từ 5 – 8 thích hợp nhất là 7,0 – 7,5.
 Các hình thức trồng nấm rơm:
Nấm rơm có thể được trồng dưới nhiều hình thức khác nhau như : như trồng
nấm trong nhà vòm, trồng nấm trong khuôn gỗ, trồng nấm trên đất.
– Trồng nấm rơm trong nhà vòm: Ban đầu ủ rơm chín (rơm ướt ủ 3 ngày,
rơm khô ủ 7 ngày), cho vào khung ép thành bánh (cỡ khung: 30 x 22 x 12cm), gói vào
bao nilon đem phơi nắng một ngày, để nguội một đêm rồi cấy meo (1 bọc meo cấy từ
7- 10 bánh rơm). Cấy xong, gói lại để nơi thoáng mát. Sau 7 ngày mở bao ra đem bánh
rơm vào nhà kín, chất lên kệ. Dùng bình xịt phun nước (bình 8 lít phun cho 600 bánh
rơm), giữ nhiệt độ ở 36oC. Nếu nhiệt độ giảm tiếp tục phun nước, còn nhiệt độ tăng thì
mở cửa sổ thoát nhiệt. Sau 4 ngày, nấm to bằng ngón tay, phun thuốc tăng trưởng
Komix (lọ 20cc pha bình 8 lít phun cho 600 bánh rơm). Sang ngày thứ 5 người trồng
có thể thu hoạch và thu hoạch kéo dài liên tiếp 10 ngày.
Thu hoạch xong đợt, quyét dọn nhà kín, khử trùng bằng vôi bột để trồng tiếp
đợt sau. Kỹ thuật trồng nấm trong nhà vòm cho phép người trồng nấm sản xuất theo
phương thức dây chuyền, mỗi đợt trồng 15 ngày (thời gian trong nhà kín) và không bị
ảnh hưởng thời tiết. Đồng thời tiết kiệm được 50% lượng rơm so với cách truyền
thống), ít tốn công chăm sóc, chất lượng nấm thương phẩm cao, giảm chi phí trong quá
trình sản xuất, năng suất tăng gấp 2/3 lần.
– Trồng nấm trong khuôn gỗ: Cho rơm rạ khô vào bể nước vôi, ngâm no
nước rồi vớt ra, để ráo 5-10 phút, sau đó chất lên kệ, dựng cọc thông khí ở giữa. Chất
đến khi cọc thông khí còn 0,3-0,5m là được. Dùng tấm bạt quấn quanh đống ủ, chừa
một khoảng trống trên cùng. Nếu trời mưa che cọc thông khí để tránh nước mưa chảy
vào đống ủ. Sau khi ủ 3-4 ngày thì đảo nguyên liệu.
Đảo từ ngoài vào trong và trong ra ngoài. Sau đó 3-4 ngày, đảo lại lần 2. Sau 3-
4 ngày có thể đưa ra cấy. Xử lý nhà nuôi trồng bằng nước vôi đặc hoặc phooc môn
Đại
học
Kin
h tế
Hu
ế
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế
SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN 10
0,5%. Lấy rơm đã ủ ra để nguội, kiểm tra độ ẩm bằng ẩm kế, hoặc nắm chặt một nắm,
thấy nước rỉ ra kẽ tay là được. Nếu rơm ướt phải phơi cho ráo, khô; tưới thêm nước
bằng bình phun sương. Cho rơm vào khuôn, nén vừa chặt và cấy giống theo từng lớp,
mỗi lớp dày 10-12cm, 3 lớp dưới thì cấy xung quanh thành khuôn, cách khuôn 3-5 cm.
Lớp trên cùng cấy toàn bộ bề mặt, rồi phủ một lớp rơm cuối cùng khoảng 1cm. Sau đó
dùng rơm khô (loại rơm không ủ) phủ lên một lớp áo dày 3-5 cm. Trung bình, mỗi mô
cấy khoảng 0,2kg giống, khoảng cách giữa các mô là 25-30cm. Cấy giống vào buổi
sáng hoặc chiều mát.
Ba ngày đầu và giai đoạn bung sợi của nấm, đóng kín nhà nuôi trồng, chỉ để các
lỗ thông khí. Có thể tưới nước nếu thấy mô nấm quá khô. Ngày thứ tư, mở cửa để
kiểm tra, nếu khô tưới như trước. Ngày thứ 4 đến ngày thứ 5, kiểm tra nhiệt độ, dùng
nhiệt kế cắm sâu vào giữa mô nấm 15cm khoảng 5 phút, nhiệt độ 30-400 C là tốt.
Nếu dưới 300C, nên phủ thêm nylon để tăng nhiệt độ, trên 400 C thì mở toang
cửa để giảm nhiệt độ. Ngày thứ 7-8, thấy có hiện tượng kết sợi như mạng nhện ở xung
quanh bề mặt của mô nấm, lúc này phun sương cho ướt. Ngày thứ 9 và 10, trên mô
nấm có lấm tấm trắng hình đinh ghim, dừng tưới nước, khi quả nấm to bằng hạt ngô
mới bắt đầu tưới. Tiếp tục tưới phun sương cho đến khi thu hái, số lần tưới tùy thuộc
thời tiết, nếu thời tiết nóng và khô thì nên tưới nhiều nước, mô nấm có màu như màu
lúc mới cấy là được.
– Trồng nấm trên đất: Là hình thức trồng nấm cũng thường xuyên được sử
dụng ở một số quốc gia có điều kiện khí hậu mát mẻ. Hình thức này có nhiều ưu điểm
là đỡ tốn công làm vòm che, giảm thời gian sản xuất. Tuy n

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất nấm rơm tại xã Phú Lương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *