[block id=”bo-sung-1″]

Có thể nói, một trong các nguyên tắc được thừa nhận sớm nhất khi thực hiện chức năng xét xử của Toà án đó là nguyên tắc “chế độ hai cấp xét xử”. Nguyên tắc này đều được thừa nhận trong từng giai đoạn khác nhau của lịch sử lập pháp nước nhà.
Giai đoạn 1945 – 1960 : Ngay từ khi đất nước ta vừa giành được độc lập, ngày 24/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức Tòa án và các ngạch thẩm phán, trong đó đã ghi nhận nguyên tắc “Tòa án thực hiện hai cấp xét xử”. Về mặt cơ cấu tổ chức của Toà án lúc bấy giờ, tại Điều 63 Hiến pháp năm 1946 quy định cơ quan Toà án gồm có Toà án nhân dân tối cao, các Toà án phúc thẩm, các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp. Theo Sắc lệnh số 85/SL ngày 22-5-1950 thì các Toà án ở nước ta gồm có Toà án nhân dân huyện, Toà án nhân dân tỉnh, Toà án nhân dân phúc thẩm khu hoặc thành phố và Toà án nhân dân tối cao. Các Toà án nhân dân phúc thẩm là một cấp Toà án ở giữa Toà án nhân dân tỉnh, thành phố và Toà án nhân dân tối cao (Thông tư số 92-Tc ngày 11-11-1959 của Liên bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao).
Đến năm 1952, Nghị định số 32-NĐ ngày 6-4-1952 quy định thẩm quyền các các Toà án nhân dân, trong đó Toà án nhân dân huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm hoặc xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm một số loại vụ án; Toà án nhân dân tỉnh xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm (chung thẩm) đối với các vụ án mà Toà án nhân dân huyện đã xét xử sơ thẩm.
Giai đoạn 1960 – 1988 : Lần đầu tiên nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử” được thừa nhận trong luật. Điều 9 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 quy định : toà án nhân dân thực hành chế độ hai cấp xét xử. Đương sự có quyền chống bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân xử sơ thẩm lên Toà án nhân dân trên một cấp. Viện kiểm sát nhân dân cũng cấp và trên một cấp có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân.
Giai đoạn 1989 đến nay : Nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử” không còn được quy định trong Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1980 và Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988, tuy nhiên nội dung của nguyên tắc này về cơ bản vẫn được giữ nguyên, có thêm một vài điểm tiến bộ, chẳng hạn về quyền hạn, Toà án cấp phúc thẩm không có quyền làm xấu đi tình trạng của bị cáo hoặc huỷ bản án, quyết định sơ thẩm để xét xử lại vụ án theo hướng làm nặng thêm tình trạng của đương sự nếu không có kháng cáo, kháng nghị về vấn đề đó. Tuy nhiên cũng còn một vài điểm hạn chế, ví dụ như ,vẫn quy định cho phép Toà án nhân dân tối cao xét xử theo trình tự sơ thẩm đồng thời chung thẩm,.
Những hạn chế trong giai đoạn này về cơ bản lai được khắc phục. Nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử ” được quy định tại Điều 20 của BLTTHS năm 2003, và Điều 11 của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002. Bên cạnh việc được quy định trong luật, nguyên tắc này còn được Đảng ta quán triệt thành Nghị quyết, tại Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động xét xử của Tòa án: “Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, đổi mới thủ tục giám đốc thẩm để đảm bảo việc xét xử vừa đúng đắn, vừa nhanh chóng”.
Tóm lại, nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử” đã được thừa nhận trong pháp luật nước ta ngay từ ngày đầu. Việc thừa nhận nguyên tắc là nhằm góp phần đảm bảo thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền công dân, hạn chế tối đa việc Toà án xét xử oan sai người vô tội.

Tải tài liệu miễn phí - My WordPress Blog17

Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

I. Cơ sở của nguyên tắc chế độ hai cấp xét xử:
Có thể nói, một trong các nguyên tắc được thừa nhận sớm nhất khi thực hiện chức năng xét xử của Toà án đó là nguyên tắc “chế độ hai cấp xét xử”. Nguyên tắc này đều được thừa nhận trong từng giai đoạn khác nhau của lịch sử lập pháp nước nhà.
Giai đoạn 1945 – 1960 : Ngay từ khi đất nước ta vừa giành được độc lập, ngày 24/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức Tòa án và các ngạch thẩm phán, trong đó đã ghi nhận nguyên tắc “Tòa án thực hiện hai cấp xét xử”. Về mặt cơ cấu tổ chức của Toà án lúc bấy giờ, tại Điều 63 Hiến pháp năm 1946 quy định cơ quan Toà án gồm có Toà án nhân dân tối cao, các Toà án phúc thẩm, các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp. Theo Sắc lệnh số 85/SL ngày 22-5-1950 thì các Toà án ở nước ta gồm có Toà án nhân dân huyện, Toà án nhân dân tỉnh, Toà án nhân dân phúc thẩm khu hoặc thành phố và Toà án nhân dân tối cao. Các Toà án nhân dân phúc thẩm là một cấp Toà án ở giữa Toà án nhân dân tỉnh, thành phố và Toà án nhân dân tối cao (Thông tư số 92-Tc ngày 11-11-1959 của Liên bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao).
Đến năm 1952, Nghị định số 32-NĐ ngày 6-4-1952 quy định thẩm quyền các các Toà án nhân dân, trong đó Toà án nhân dân huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm hoặc xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm một số loại vụ án; Toà án nhân dân tỉnh xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm (chung thẩm) đối với các vụ án mà Toà án nhân dân huyện đã xét xử sơ thẩm.
Giai đoạn 1960 – 1988 : Lần đầu tiên nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử” được thừa nhận trong luật. Điều 9 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 quy định : toà án nhân dân thực hành chế độ hai cấp xét xử. Đương sự có quyền chống bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân xử sơ thẩm lên Toà án nhân dân trên một cấp. Viện kiểm sát nhân dân cũng cấp và trên một cấp có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân.
Giai đoạn 1989 đến nay : Nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử” không còn được quy định trong Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1980 và Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988, tuy nhiên nội dung của nguyên tắc này về cơ bản vẫn được giữ nguyên, có thêm một vài điểm tiến bộ, chẳng hạn về quyền hạn, Toà án cấp phúc thẩm không có quyền làm xấu đi tình trạng của bị cáo hoặc huỷ bản án, quyết định sơ thẩm để xét xử lại vụ án theo hướng làm nặng thêm tình trạng của đương sự nếu không có kháng cáo, kháng nghị về vấn đề đó. Tuy nhiên cũng còn một vài điểm hạn chế, ví dụ như ,vẫn quy định cho phép Toà án nhân dân tối cao xét xử theo trình tự sơ thẩm đồng thời chung thẩm,…
Những hạn chế trong giai đoạn này về cơ bản lai được khắc phục. Nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử ” được quy định tại Điều 20 của BLTTHS năm 2003, và Điều 11 của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002. Bên cạnh việc được quy định trong luật, nguyên tắc này còn được Đảng ta quán triệt thành Nghị quyết, tại Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động xét xử của Tòa án: “Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, đổi mới thủ tục giám đốc thẩm để đảm bảo việc xét xử vừa đúng đắn, vừa nhanh chóng”.
Tóm lại, nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử” đã được thừa nhận trong pháp luật nước ta ngay từ ngày đầu. Việc thừa nhận nguyên tắc là nhằm góp phần đảm bảo thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền công dân, hạn chế tối đa việc Toà án xét xử oan sai người vô tội.
II. Nội dung của nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử:
Khái niệm nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử:
Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự là tư tưởng chủ đạo, có tính bắt buộc chung thể hiện quan điểm có tính định hướng của Nhà nước trong việc tổ chức tố tụng để xét xử các vụ án hình sự, được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự, trong đó xác định một vụ án hình sự được xét xử lần đầu ở cấp sơ thẩm (cấp xét xử thứ nhất) có thể được xét xử lại và chỉ có thể được xét xử lại một lần nữa ở cấp phúc thẩm (cấp xét xử thứ hai) nếu có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, nhằm giải quyết đúng đắn, kịp thời vụ án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Nội dung nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử:
Theo Điều 20 BLTTHS năm 2003 nguyên tắc hai cấp xét có nội dung như sau:
– Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của BLTTHS này. Xét xử sơ thẩm là cấp xét xử thứ nhất, khi xác định Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm phải căn cứ vào những quy định của pháp luật về thẩm quyền theo sự việc, thẩm quyền theo đối tượng và thẩm quyền theo lãnh thổ. Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án và quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật ngay, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án một lần nữa.
– Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do BLTTHS năm 2003 quy định thì có hiệu lực pháp luật. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai. Khi xét xử lại vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm mà còn xét xử lại vụ án về mặt nội dung bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án và được đưa ra thi hành.
Đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Tòa án cấp giám đốc thẩm và tái thẩm không phải là một cấp xét xử, không xét xử lại vụ án về nội dung mà chỉ xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các bản án và quyết định đó. Khi giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, Tòa án không thực hiện chức năng xét xử mà thực hiện chức năng việc giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới.
Ý nghĩa của nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử:
Ý nghĩa pháp lý:
Khi một vụ án hình sự nếu Tòa án chỉ xét xử một lần mà việc xét xử làm cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác thấy oan sai thì khi đó quyền và lợi ích của họ sẽ ra sao? Vậy khi đó họ phải làm thế nào để bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình? Trả lời cho câu hỏi đó, pháp luật quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự. Việc quy định như vậy đảm bảo:
Thứ nhất, để đảm bảo cho việc xét xử của tòa án được chính xác. Việc quy định một vụ án hình sự có thể được xét xử qua hai cấp là một đảm bảo pháp lý cần thiết cho việc xét xử của Tòa án được chính xác và đúng đắn. Thông qua đó, những vấn đề thuộc về nội dung vụ án sẽ một lần nữa được xem xét, phân tích và đánh giá kỹ càng hơn, đầy đủ hơn. Trên cơ sở đó các phán quyết mà Tòa án đưa ra sẽ đảm bảo độ chính xác cao hơn.
Thứ hai, để đảm bảo tòa án cấp trên thực hiện chức năng kiểm tra, hướng dẫn việc xét xử các vụ án hình sự của tòa án cấp dưới, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Điều này tạo cơ sở pháp lý quan trọng để Viện kiểm sát, bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án thể hiện thái độ không đồng tình với việc xét xử của Tòa án bằng việc kháng cáo, kháng nghị của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án theo quy định của Pháp luật tố tụng hình sự, để vụ án được xét xử lại ở cấp phúc thẩm. Thông qua đó các chủ thể của quyền kháng cáo, kháng nghị có thể bảo vệ được quyền và lợi ích của mình và trong nhiều trường hợp lợi ích của Nhà nước và xã hội cũng được bảo đảm.
Thứ ba, thực hiện hai cấp xét xử còn là phương tiện để tòa án cấp trên sửa chữa, uốn nắn những sai lệch của tòa án cấp dưới. BLTTHS không những quy định trong mọi trường hợp các vụ án hình sự có thể được xét xử ở hai cấp mà còn quy định về việc sơ thẩm có thể bị sửa, bị hủy bản án, quyết định ở cấp phúc thẩm sẽ kịp thời sửa chữa những sai lầm hoặc các vi phạm pháp luật mà cấp sơ thẩm đã mắc phải, góp phần nâng cao trách nhiệm của Hội đồng xét xử sơ thẩm giúp họ có thái độ thận trọng và có trách nhiệm hơn trước khi đưa ra phán quyết của mình.
Việc quy định xét xử vụ án qua hai cấp xét xử, để thông qua hoạt động xét xử ở cấp phúc thẩm (cấp xét xử thứ hai), Tòa án cấp phúc thẩm sẽ kịp thời chỉ ra những sai lầm, thiếu sót mà Tòa án cấp sơ thẩm sửa chữa những sai lầm của mình. Đây cũng chính là một hình thức hướng dẫn áp dụng pháp luật có hiệu quả to lớn giữa Tòa án cấp phúc thẩm với Tòa án cấp sơ thẩm. Nhờ đó mà chất lượng xét xử tại các cấp xét xử ngày càng được nâng cao. Việc xét xử lại vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử sẽ giúp tìm ra nguyên nhân dẫn đến những sai lầm hay những vi phạm pháp luật trong việc áp dụng pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tòa án nói riêng. Từ đó giúp tìm ra các giải pháp thích hợp để sửa chữa, khắc phục về lập pháp cũng như về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật, tổ chức các cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là hoàn thiện tổ chức Tòa án đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc hai cấp xét xử và yêu cầu cải cách tư pháp.
2. Ý nghĩa chính trị – xã hội:
2.1. Ý nghĩa chính trị:
Việc quyết định và thực hiện hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự đáp ứng những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền với việc bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng của công dân, đảm bảo dân chủ, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, áp dụng đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, là sự thể hiện nhận thức khoa học về hoạt động xét xử của Tòa án. Việc quyết định một vụ án hình sự có thể được xét xử ở hai cấp xét xử khác nhau là phù hợp quy luật của nhận thức nhằm đảm bảo tính đúng đắn, khách quan của hoạt động xét xử. Quy định nguyên tắc hai cấp xét xử thể hiện thái độ thận trọng của Nhà nước trong việc đưa ra phán xét về số phận pháp lý, sinh mạng chính trị, quyền lợi của người đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự và những người khác có liên quan, là sự thể hiện rõ ràng nhất bản chất của Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự tạo điều kiện để các chủ thể tham gia tố tụng có thể trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích của mình nhiều lần tại các phiên tòa xét xử khác. Đồng thời với việc đảm bảo quyền lợi của người tham gia tố tụng, việc xét xử ở hai cấp giúp cho họ nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong vụ án để có thái độ hợp tác tích cực với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình. Việc quy định nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự giúp tránh tình trạng vụ án được (bị) xét xử ở quá nhiều cấp làm cho quá trình tố tụng kéo dài, ảnh hưởng tới hiệu lực của bản án, quyết định, nhất là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp lực.
2.2. Ý nghĩa xã hội:
Việc quyết định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự góp phần rất lớn vào việc đảm bảo công bằng xã hội, nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật và phòng ngừa tội phạm, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, nâng cao uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tòa án nói riêng. Mặt khác, khi biết được kết quả của hoạt động xét xử Phúc thẩm, thấy được sự đánh giá về tính đúng đắn hay không đúng đắn của xét xử sơ thẩm người dân mới thực hiện được triệt để quyền giám sát hoạt động xét xử của Tòa án các cấp.
Trên cơ sở đó mới có thái độ chính xác nhất về tính khách quan của hoạt động này trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của công dân, lợi ích chung của xã hội và cộng đồng.
Điều kiện đảm bảo thực hiện nguyên tắc:
1. Trên phương diện lập pháp:
Để thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử, các quy định về thủ tục cần thỏa mãn các điều kiện sau:
Thứ nhất, phải đảm bảo đầy đủ các cơ sở pháp lý cho việc xét xử sơ thẩm, Tòa án chỉ xét xử khi có quyết định truy tố của Viện kiểm sát và quyết định đưa vụ án ra xét xử của Thẩm phán.
Các quy định pháp luật cần đảm bảo đầy đủ các điều kiện thuận lợi cho việc xét xử thật sự khách quan, toàn diện, chính xác ngay từ lần xét xử đầu tiên. Tòa án phải đảm bảo cho tất cả những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án có điều kiện được bảo vệ quyền lợi của mình tại phiên tòa, hạn chế xét xử vắng mặt những người thuộc diện này bằng việc giao quyết định đưa vụ án ra xét xử của Thẩm phán, thông báo thời gian, địa điểm mở phiên tòa, lịch xét xử…đúng thời hạn, đúng đối tượng.
Thủ tục tố tụng tại phiên tòa cần đảm bảo đề cao yếu tố tranh tụng, tôn trọng và đảm bảo quyền bình đẳng giữa các chủ thể tham gia tranh tụng tại phiên tòa; mọi vấn đề thuộc nội dung vụ án đều được cấp sơ thẩm giải quyết, tránh phiến diện làm mất thời gian, không kịp thời khắc phục những hậu quả do hành vi phạm tội gây ra.
Ví dụ: Những vấn đề về dân sự trong vụ án hình sự cần giải quyết và có thể giải quyết đồng thời với những vấn đề hình sự nếu có yêu cầu của những người tham gia tố tụng có liên quan tại phiên tòa, mặc dù trước khi mở phiên tòa họ không yêu cầu.
Thứ hai, quyền kháng cáo của bị cáo, người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý liên quan, quyền kháng nghị của Viện kiểm sát đối với bản án, quyết định sơ thẩm phải được đảm bảo tối đa. Sự đảm bảo này phải được thể hiện trong các quy định liên quan đến thẩm quyền kháng cáo, kháng nghị.
Các quy định pháp luật cần xác định rõ ràng diện đối tượng có quyền kháng cáo, điều kiện để họ có thể được thực hiện quyền này (nếu có), trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm cho các chủ thể có quyền kháng cáo biết được quyền của mình và có thể thực hiện quyền này một cách thuận lợi, có hiệu quả nhất; phạm vi thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị phải được quy định sao cho mọi vấn đề mà Tòa án cấp sơ thẩm đã kết luận và phán quyết nếu liên quan, ảnh hưởng đến quyền lợi của bất cứ chủ thể tham gia tố tụng nào cũng có thể được xem xét, đánh giá lại một lần nữa ở cấp phúc thẩm, nếu các chủ thể đó có yêu cầu.
Thủ tục kháng cáo phải thật sự dễ dàng, thuận tiện, quy định đa dạng hóa hình thức kháng cáo; thời hạn kháng cáo, kháng nghị cần cụ thể, nhất là thời hạn kháng cáo đối với các trường hợp khác nhau như trường hợp người có quyền kháng cáo có mặt hoặc vắng mặt tại phiên tòa.
Thứ ba, các quy định pháp luật phải thực hiện rõ ràng và đầy đủ rằng phúc thẩm một cấp xét xử (cấp xét xử thứ hai). Xác định chính xác tính chất của phúc thẩm là việc xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đối với vụ án ấy bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định. Thủ tục phiên tòa phúc thẩm phải được tiến hành tương tự như phiên tòa sơ thẩm, tức là cũng phải tiến hành tuần tự theo các bước giống như các bước tại phiên tòa sơ thẩm, đủ điều kiện để xem xét, đánh giá đưa ra những kết luận đúng đắn, chính xác.
Các nguyên tắc tố tụng xét xử cần được áp dụng thống nhất tại hai phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm. Tuy nhiên, cách thức tiến hành xét xử tại phiên tòa phúc thẩm chắc chắn sẽ không thể rập khuôn như phiên tòa sơ thẩm do có sự khác nhau giữa hai phiên tòa về phạm vi những vấn đề cần xem xét, thành phần tham gia tố tụng, các quy định của pháp luật về thủ tục phiên tòa phúc thẩm phải quy định cụ thể sự khác biệt đó….
Thứ tư, phạm vi xét xử phúc thẩm phải được xác định rõ ràng không vượt quá những vấn đề đã được cấp sơ thẩm xét xử và kết luận, đồng thời không vượt quá yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị để đảm bảo tính ổn định của phần bản án, quyết định không có kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị; quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm khi xét xử lại vụ án về nguyên tắc không được quy định vượt quá yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị, vì cơ sở pháp lý làm phát sinh thủ tục phúc thẩm chính là kháng cáo, kháng nghị. Do vậy, nội dung các yêu cầu đặt ra trong kháng cáo, kháng nghị phải được coi là sự giới hạn quyền được xem xét và xử của Tòa án cấp phúc thẩm.
Mặt khác, do phúc thẩm là xét xử lại vụ án đã xử lần đầu ở cấp sơ thẩm cho nên về nguyên tắc khi xét xử và đưa ra phán quyết về nội dung vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm không được có những phán quyết vi phạm giới hạn xét xử ở cấp sơ thẩm. Với việc quy định tại BLTTHS cho phép Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể sửa bản án sơ thẩm theo hướng đổi tội danh khác nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án cấp sở thẩm đã áp dụng đối với bị cáo, trong thực tế hiện nay, điều kiện này đã không được đảm bảo thực hiện.
2. Trên phương diện thực hiện pháp luật:
Thứ nhất, việc giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật phải nhanh chóng, kịp thời. Bởi lẽ, muốn thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật, trước tiên phải làm cho các quy phạm pháp luật trước nên dễ hiểu, dễ áp dụng. Đặc điểm của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở việt Nam là: các quy định của pháp luật rất cô đọng, nhiều quy định có tính chất định hướng hay lựa chọn, thậm chí vẫn còn tồn tại không ít quy định có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Thứ hai, đảm bảo các điều kiện thuận lợi nhất để các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm thực hiện kịp thời, đầy đủ quyền kháng cáo, kháng nghị của mình. Quy định rõ trách nhiệm của Tòa án cấp sơ thẩm trong việc đảm bảo quyền kháng cáo, kháng nghị trên các phương diện như giải thích cho các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị biết về quyền của mình cũng như thời hạn, phạm vi kháng cáo, địa điểm, hình thức được thực hiện quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án ngay từ khi bắt đầu phiên tòa sơ thẩm và giải thich rõ về quyền này một lần nữa sau khi tuyên án sơ thẩm; Cần quy định chính xác phạm vi những người có quyền kháng cáo để tạo cho họ những điều kiện thuận lợi cho việc kháng cáo bản án, quyết định nếu không đồng tình với phán quyết của tòa án, đồng thời cũng chế bớt các trường hợp kháng cáo, không đúng quy định pháp luật tố tụng hình sự.
3. Trên phương diện tổ chức và các phương diện khác:
Tổ chức hệ thống tòa án và quy định về thẩm quyền xét xử của các tòa án phải phù hợp khả năng thực tế của từng cấp xét xử khác nhau về trình độ tổ chức, khả năng chuyên môn cũng như về điều kiện cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xét xử, phù hợp với yêu cầu của nguyên tắc hai cấp xét xử, đảm bảo xét xử kịp thời, khách quan, chính xác. Hiện nay hệ thống tòa án nước ta tổ chức theo nguyên tắc hành chính- lãnh thổ nên có nhiều bất cập, làm hạn chế việc thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử, gây lãng phí về nhân lực và kinh phí, hạn chế các điều kiện thuận lợi để có thể tổ chức xét xử thật sự khách quan, đúng đắn.
Tổ chức tòa án theo cấp xét xử phải thể hiện rõ quan hệ giữa cấp tòa án xét xử theo các thủ tục tố tụng khác nhau chủ yếu là quan hệ tố tụng (quan hệ giữa các cấp xét xử có thẩm quyền xét xử theo các thủ tục tố tụng nhất định) chứ không đơn thuần là quan hệ hành chính. Dưới góc độ quan hệ giữa các tòa án, hiện tại, cách thức tổ chức hệ thống tòa án ở nước ta chưa đáp ứng được điều kiện quan trọng này, thực tế tòa án nhân dân cấp huyện hiện nay là tòa án cấp dưới của nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân cấp tỉnh là tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp của tòa án nhân dân cấp huyện; Tòa án nhấn dân tối cao là tòa án cấp trên trực tiếp của tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Tổ chức tòa án theo cấp xét xử phải đảm bảo được sự độc lập xét xử, hạn chế đến mức thấp nhất sự lệ thuộc và can thiệp vào hoạt động xét xử, phù hợp với yêu cầu của nhà nước pháp quyền, tất cả các quan hệ xã hội đều nằm trong sự điều chỉnh của pháp luật, với tinh thần thượng tôn pháp luật. Hiện nay hệ thống tòa án nước ta tổ chức theo nguyên tắc hành chính – lãnh thổ nên chưa thực sự xác lập được điều kiện này, do còn nhiều sự lệ thuộc giữa Tòa án với các cơ quan, tổ chức.
Tổ chức các cơ quan tiến hành tố tụng khác như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải đổi mới cho phù hợp và tương ứng với tổ chức của Tòa án để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất với mô hình tổ chức các cơ quan tiến hành tố tụng trong cải cách tư pháp, phù hợp với việc thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử.
Chất lượng người

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *