[block id=”bo-sung-1″]

Theo Mác, lao động của con người là một trong 3 yếu tố quan trọ ng quyết
định sự tồn tại của quá trình sản xuất. Lao động giữ vai trò chủ chốt trong việc tái
tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Lao động có năng suất, có chất
lượng và đạt hiệu quả cao là nhân tố đảm bảo cho sự phồn vinh của mọi quốc gia.
Người lao động chỉ phát huy hết khả năng của mình khi sức lao động mà họ
bỏ ra được đền bự xứng đáng. Đó là tiền lương mà người sử dụng lao động trả cho
người lao động.
Tiền lương là một bộ phận của sản phẩm xã hội, là biểu hiện bằng tiền mà
doanh nghiệp trả cho người lao động tương ứng với thời gian, chất lượng, kết quả
lao động mà họ đã cống hiến. Tiền lương còn là nguồn khởi đầu của quá trình tái
sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hoá. Mặt khác, tiền lương đối với doanh nghiệp lại
là một yếu tố chi phí. Vì vậy, việc hạch toán phân bổ chính xác tiền lương vào giá
thành sản phẩm, tính đủ và thanh toán kịp thời tiền lương cho người lao động sẽ
góp phần hoàn thành kế hoạch sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng năng suất lao
động, nâng cao công tác quản lý và sử dụng lao động hiệu quả, tăng tích luỹ và
đồng thời sẽ cải thiện đời sống người lao động.
Gắn chặt với tiền lương là các khoản trích theo lương bao gồm bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và kinh phí công đoàn. Đây là các quỹ xã
hội thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đối với người lao động.
Chính sách tiền lương được vận dụng linh hoạt ở mỗi DN phụ thuộc vào đặc
điểm và tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh và phụ thuộc vào tính chất
của công việc. Vì vậy, việc xây dựng một cơ chế trả lương phù hợp, hạch toán đủ
và thanh toán kịp thời có một ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế cũng như về mặt chính
trị đối với người lao động nhận thức được tầm quan tr ọng của công tác tiền lương
trong quản lý DN, em chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán tiền lƣơng và
các khoản trích theo lƣơng tại Công Ty Cổ Phần Vinatro”.

de_tai_hoan_thien_cong_tac_ke_toan_tien_long_va_cac_khoa

pdf96 trang | Chia sẻ: thuychi21 | Ngày: 03/12/2015 | Lượt xem: 750 | Lượt tải: 0download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Hoàn thiện công tác kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại Công Ty Cổ Phần Vinatro, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Sinh viên: Nguyễn Phƣơng Thu_QTL302K 1
Lời mở đầu
Theo Mác, lao động của con người là một trong 3 yếu tố quan trọng quyết
định sự tồn tại của quá trình sản xuất. Lao động giữ vai trò chủ chốt trong việc tái
tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Lao động có năng suất, có chất
lượng và đạt hiệu quả cao là nhân tố đảm bảo cho sự phồn vinh của mọi quốc gia.
Người lao động chỉ phát huy hết khả năng của mình khi sức lao động mà họ
bỏ ra được đền bự xứng đáng. Đó là tiền lương mà người sử dụng lao động trả cho
người lao động.
Tiền lương là một bộ phận của sản phẩm xã hội, là biểu hiện bằng tiền mà
doanh nghiệp trả cho người lao động tương ứng với thời gian, chất lượng, kết quả
lao động mà họ đã cống hiến. Tiền lương còn là nguồn khởi đầu của quá trình tái
sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hoá. Mặt khác, tiền lương đối với doanh nghiệp lại
là một yếu tố chi phí. Vì vậy, việc hạch toán phân bổ chính xác tiền lương vào giá
thành sản phẩm, tính đủ và thanh toán kịp thời tiền lương cho người lao động sẽ
góp phần hoàn thành kế hoạch sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng năng suất lao
động, nâng cao công tác quản lý và sử dụng lao động hiệu quả, tăng tích luỹ và
đồng thời sẽ cải thiện đời sống người lao động.
Gắn chặt với tiền lương là các khoản trích theo lương bao gồm bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và kinh phí công đoàn. Đây là các quỹ xã
hội thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đối với người lao động.
Chính sách tiền lương được vận dụng linh hoạt ở mỗi DN phụ thuộc vào đặc
điểm và tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh và phụ thuộc vào tính chất
của công việc. Vì vậy, việc xây dựng một cơ chế trả lương phù hợp, hạch toán đủ
và thanh toán kịp thời có một ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế cũng như về mặt chính
trị đối với người lao động nhận thức được tầm quan trọng của công tác tiền lương
trong quản lý DN, em chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán tiền lƣơng và
các khoản trích theo lƣơng tại Công Ty Cổ Phần Vinatro”.
Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Sinh viên: Nguyễn Phƣơng Thu_QTL302K 2
Khóa luận gồm 3 chƣơng chính sau:
Chƣơng I: Những vấn đề lý luận chung về kế toán tiền lương và các khoản
trích theo tiền lương trong doanh nghiệp.
Chƣơng II: Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo tiền lương
tại Công ty Cổ Phần Viantro.
Chƣơng III: Một số ý kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán
tiền lương và các khoản trích theo tiền lương tại Công ty Cổ Phần Vinatro.
Vì thời gian và kiến thức còn nhiều hạn chế nên em không tránh khỏi những sai sót
và những biện pháp đưa ra chưa hoàn hảo. Kính mong được sự quan tâm, chỉ bảo
của các thầy cô giáo để bài viết hoàn thiện hơn.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn!
Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Sinh viên: Nguyễn Phƣơng Thu_QTL302K 3
Chƣơng I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƢƠNG VÀ
CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƢƠNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP.
1.1. Các vấn đề chung về lao động tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng.
1.1.1.Vai trò lao động trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Lao động là hoạt động chân tay và trí óc của con người nhằm tác động, biến
đổi các vật tự nhiên thành những vật phẩm đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt của con
người. Trong mọi chế độ xã hội, việc sáng tạo ra của cải vật chất đều không tách
rời lao động. Lao động là điều kiện đầu tiên cần thiết cho sự tồn tại và phát triển
của xã hội loài người là yếu tố cơ bản có tính chất quyết định trong quá trình sản
xuất. Để cho quá trình tái sản xuất xã hội nói chung và quá trình sản xuất kinh
doanh ở các doanh nghiệp nói riêng được diễn ra thường xuyên liên tục thì một vấn
đề thiết yếu là phải tái sản xuất sức lao động. Người lao động phải có vật phẩm tiêu
dùng để tái sản xuất sức lao động, vì vậy khi họ tham gia lao động sản xuất của các
doanh nghiệp thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải trả thù lao lao động cho họ. Trong
nền kinh tế hàng hoá, thù lao lao động được biểu hiện bằng thước đo giá trị gọi là
tiền lương.
Như vậy tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần
thiết mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo thời gian, khối lượng công việc
mà người lao động đó cống hiến cho doanh nghiệp.
1.1.1.1 Vai trò của lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Tiền lương là công cụ để thực hiện chức năng phân phối thu nhập quốc dân
chức năng thanh toán, tiền lương nhằm tái sản xuất sức lao động thông qua việc sử
dụng tiền lương trao đổi lấy các vật sinh hoạt cần thiết cho cuộc sống của người
lao động, tiền lương là một bộ phận quan trọng về thu nhập, chi phối và quyết định
mức sống của người lao động do đó là một công cụ quan trọng trong quản lý.
Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Sinh viên: Nguyễn Phƣơng Thu_QTL302K 4
Người ta sử dụng nó để thúc đẩy người lao động hăng hái lao động và sáng tạo, tạo
động lực trong lao động
Do vậy quản lý lao động tiền lương là một nội dung quan trọng trong công tác
quản lý sản xuất kinh doanh, nó là nhân tố giúp cho kinh doanh hoàn thành vượt mức
kế hoạch sản xuất của mình. Tổ chức tốt hoạch toán lao động và tiền lương giúp cho
công tác quản lý lao động của doanh nghiệp vào nề nếp, thúc đẩy người lao động chấp
hành tốt kỷ luật lao động, tăng năng suất và hiệu quả công tác.
Tổ chức công tác hạch toán lao động và tiền lương giúp cho doanh nghiệp
quản lý tốt quỹ tiền lương, đảm bảo việc trả lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội đúng
nguyên tắc, đúng chế độ, khuyến khích người lao động hoàn thành nhiệm vụ được
giao, đồng thời cũng tạo cơ sở cho việc phân bổ chi phí nhân công và giá thành sản
phẩm được chính xác.
1.1.1.2 Phân loại lao động trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Muốn có thông tin chính xác về số lượng và cơ cấu lao động cần phải phân
loại lao động. Trong các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau thì
việc phân loại lao động không giống nhau tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý lao động
trong điều kiện cụ thể của toàn doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp có thể phân chia lao động như sau :
Phân loại lao động theo thời gian lao động gồm : hai loại
+ Lao động thường xuyên trong danh sách: là lực lượng lao động do doanh
nghiệp trực tiếp quản lý và chi trả lương gồm: công nhân sản xuất kinh doanh cơ
bản và nhân viên thuộc các hoạt động khác.
+ Lao động ngoài danh sách: là lực lượng lao động làm việc tại các doanh
nghiệp do các ngành khác chi trả lương như cán bộ chuyên trách đoàn thể, học
sinh, sinh viên thực tập, …
Phân loại theo quan hệ với quá trình sản xuất gồm: lao động trực tiếp sản
xuất và lao động gián tiếp sản xuất:
Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Sinh viên: Nguyễn Phƣơng Thu_QTL302K 5
+ Lao động trực tiếp sản xuất: là những người trực tiếp tiến hành các hoạt
động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc
nhiệm vụ nhất định:
Trong lao động trực tiếp được phân loại như sau :
– Phân loại theo nội dung công việc mà người lao động thực hiện thì lao
động trực tiếp được chia thành : lao động sản xuất kinh doanh chính, lao động sản
xuất kinh doanh phụ trợ, lao động phụ trợ khác.
– Phân loại theo năng lực và trình độ chuyên môn lao động trực tiếp được
chia thành các loại sau:
+ Lao động có tay nghề cao: bao gồm những người đã qua đào tạo chuyên
môn và cô nhiều kinh nghiệm trong công việc thực tế có khả năng đảm nhận các
công việc phức tạp đòi hỏi trình độ cao.
+ Lao động có tay nghề trung bình: bao gồm những người đã qua đào tạo
qua lớp chuyên môn nhưng có thời gian làm việc thực tế tương đối dài được trưởng
thành do học hỏi từ kinh nghiệm thực tế.
+ Lao động phổ thông: lao động không phải qua đào tạo vẫn được làm việc.
+ Lao động gián tiếp sản xuất: là bộ phận lao động tham gia một cách gián
tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lao động gián tiếp gồm
những người chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp. Lao
động gián tiếp được phân loại như sau :
– Phân loại theo nội dung công việc và nghề nghiệp chuyên môn loại lao
động này được phân chia thành nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân
viên quản lý hành chính.
– Phân loại theo năng lực và trình độ chuyên môn lao động gián tiếp được
chia thành như sau
+ Chuyên viên chính: là những người có trình độ từ đại học trở lên có trình
độ chuyên môn cao, có khả năng giải quyết các công việc mang tính tổng hợp,
phức tạp.
Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Sinh viên: Nguyễn Phƣơng Thu_QTL302K 6
+ Chuyên viên: là những người lao động đã tốt nghiệp đại học, trên đại học,
có thời gian công tác dài có trình độ chuyên môn cao.
+ Cán sự: là những người lao động mới tốt nghiệp đại học, có thời gian công
tác nhiều.
+Nhân viên: là những người lao động gián tiếp với trình độ chuyên môn
thấp có thể đã qua đào tạo các trường chuyên môn, nghiệp vụ hoặc chưa đào tạo.
Phân loại lao động trong doanh nghiệp có ý nghĩa to lớn trong việc nắm bắt
thông tin về số lượng và thành phẩm lao động, về trình độ nghề nghiệp của người
lao động trong doanh nghiệp, về sự bố trí lao động trong doanh nghiệp từ đó thực
hiện quy hoạch lao động lập kế hoạch lao động. Mặt khác thông qua phân loại lao
động trong toàn doanh nghiệp và từng bộ phận giúp cho việc lập dự toán chi phí
nhân công trong chi phí sản xuất kinh doanh, lập kế hoạch quỹ lương và thuận lợi
cho công tác kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch và dự toán này.
1.1.2. Tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp.
1.1.2.1. Khái niệm và các nội dung cơ bản về tiền lương.
* Khái niệm về tiền lương.
Trong bất kỳ nền kinh tế nào thì việc sản xuất ra của cải vật chất hoặc thực
hiện quá trình kinh doanh đều không tách rời lao động của con người. Lao động là
yếu tố cơ bản quyết định việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh. Và lao động
được đo lường, đánh giá thông qua các hình thức trả lương cho người lao động của
doanh nghiệp.
Vậy tiền lương là giá cả của sức lao động, là một khoản thù lao do người sử
dụng sức lao động trả cho người lao động để bự đắp lại phần sức lao động mà họ
đó hao phí trong quá trình sản xuất. Mặt khác tiền lương còn để tái sản xuất lại sức
lao động của người lao động, đảm bảo sức khoẻ và đời sống của người lao động.
Tiền lương là một bộ phận xã hội biểu hiện bằng tiền được trả cho người lao
động, dựa theo số lương và chất lượng lao động của mỗi người dùng để bù đắp lại
hao phí lao động của họ và nó là một vấn đề thiết thực đối với đời sống cán bộ,
công nhân viên chức. Tiền lương được quy định một cách đúng đắn là yếu tố kích
Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Sinh viên: Nguyễn Phƣơng Thu_QTL302K 7
thích sản xuất mạnh mẽ, nó kích thích người lao động ra sức sản xuất và lao động,
nâng cao trình độ tay nghề cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động.
Nước ta trong thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp, tiền lương là một phần
thu nhập quốc dân được nhà nước phân phối một các có tổ chức, có kế hoạch cho
người lao động căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động. Nhà nước ban hành
các chính sách chế độ và mức lương cụ thể để áp dụng cho mỗi người lao động bất
kỳ họ là lực lượng lao động trực tiếp hay gián tiếp. Tiền lương của người lao động
phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn đơn vị chứ không
phụ thuộc vào năng suất lao động của từng người. Chính vì lý do này mà tiền
lương đã không kích thích và phát triển được khả năng của người lao động trong
việc phát huy sáng kiến cũng như đẩy mạnh hiệu quả sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì tất yếu thị trường sức lao động phải
được hình thành và hoạt động theo quy luật cung cầu về sức lao động. Giá cả sức lao
động là tiêu chuẩn trả công lao động. Quan niệm về tiền lương và số lượng tiền tệ
người sử dụng lao động phải trả cho người lao động để hoàn thành công việc.
Quan niệm hiện nay của nhà nước ta như sau: “ Tiền lương là giá cả sức lao
động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thỏa thuận giữa
người có sức lao động và người sử dụng lao động, đồng thời chịu sự chi phối của
các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cung – cầu”.
Khái niệm tiền lương có tính chất tổng quát hơn cùng với một loạt các khái
niệm khác nhau như: Tiền lương danh nghĩa, tiền lương thực tế, tiền lương tối thiểu
+ Tiền lương danh nghĩa: Là khái niệm chỉ số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao
động trả cho người lao động căn cứ vào hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên trong
việc thuê lao động. Trên thực tế, mọi mức lương trả cho người lao động đều là tiền
lương danh nghĩa.
+ Tiền lương thực tế: Là số lượng tư liệu sinh hoạt và dịch vụ mà người lao động
có thể mua bằng lương của mình sau khi đã khấu trừ các khoản trích theo lương
theo quy định của Nhà nước. Chỉ số tiền lương thực tế tỷ lệ nghịch với chỉ số giá
Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Sinh viên: Nguyễn Phƣơng Thu_QTL302K 8
cả và tỷ lệ thuận với chỉ số tiền lương danh nghĩa tại thời điểm xác định. Trên thực
tế thì người lao động luôn quan tâm đến tiền lương thực tế nhiều hơn là tiền lương
danh nghĩa.
+ Tiền lương tối thiểu: Là tiền lương trả cho người lao động giản đơn nhất trong điều
kiện bình thường của xã hội. Tiền lương tối thiểu nhằm đảm bảo cho các nhu cầu thiết
yếu ở mức tối thiểu. Là cái ngưỡng cuối cùng để từ đó xây dựng các mức lương khác
nhau tạo thành hệ thống tiền lương của một ngành nào đó hoặc hệ thống tiền lương
chung thống nhất của một nước, là căn cứ để hoạch định chính sách tiền lương. Nó
được coi là yếu tố hết sức quan trọng của chính sách tiền lương.
* Chức năng của tiền lương.
+ Chức năng tái sản xuất sức lao động.
+ Chức năng là công cụ quản lý của doanh nghiệp.
+ Chức năng là đòn bẩy kinh tế.
+ Chức năng điều tiết lao động.
+ Chức năng thước đo hao phí lao động xã hội.
+ Chức năng công cụ quản lý Nhà nước.
* Vai trò của tiền lương.
+ Tiền lương duy trì thúc đẩy và tái sản xuất sức lao động, nhất là trong nền
kinh tế thị trường hiện nay nếu doanh nghiệp nào có chế độ lương hợp lý thì sẽ thu
hút được nguồn nhân lực có chất lượng tốt.
+ Chi phí về tiền lương là một trong các yếu tố chi phí cơ bản cấu tháng nên
giá trị sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Sử dụng hợp lý lao động cũng chính
là tiết kiệm chi phí lao động sống (lương), do đó góp phần hạ thấp giá thành sản
phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và là điều kiện để cải thiện, nâng cao đời
sống vật chất tinh thần cho người lao động trong doanh nghiệp.
+ Tiền lương không phải là vấn đề chi phí trong nội bộ doanh nghiệp, thu
nhập đối với người lao động mà còn là vấn đề kinh tế – chính trị – xã hội mà Chính
phủ của mỗi quốc gia cần quan tâm.
Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Sinh viên: Nguyễn Phƣơng Thu_QTL302K 9
* Ý nghĩa của tiền lương.
+ Tiền lương là thu nhập chính của người lao động, yếu tố để đảm bảo tái
sản xuất sức lao động và là một bộ phận đặc biệt của sản xuất xã hội
+ Tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh tế
gia đình và có vai trò đối với sự sống của con người lao động và từ đó trở thành
đòn bảy kinh tế. Như vậy, có thể nói tiền lương đã góp phần quan trọng giúp nhà tổ
chức điều phối công việc dễ dàng thuận lợi.
+ Trong doanh nghiệp thì tiền lương được sử dụng như thước đo hiệu quả
công việc. Tiền lương là một bộ phận cấu thành trong chi phí sản xuất, chi phí bán
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp nên tiền lương cũng ảnh hưởng đên lợi
nhuận của DN.
 Với những vai trò của tiền lương trong sản xuất và trong đời sống thì việc chọn
hình thức trả lương phù hợp với điều kiện đặc thù sản xuất từng ngành, từng doanh
nghiệp sẽ có tác dụng tích cực thúc đẩy người lao động quan tâm đến kết quả lao
động, hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đây luôn là vấn đề được quan tâm trong tất cả
các doanh nghiệp, một chế độ tiền lương lý tưởng sẽ đảm bảo lợi ích của người lao
động, người sử dụng lao động và toàn xã hội.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương:
+ Nhóm nhân tố thuộc thị trường lao động: cung cầu lao động, chi phí sinh
hoạt, chênh lệch tiền lương giữa các khu vực,
+ Nhóm nhân tố thuộc môi trương doanh nghiệp: cơ cấu tổ chức, các chính
sách của doanh nghiệp, khả năng tài chính của doanh nghiệp,
+ Nhóm nhân tố thuộc bản thân người lao động: trình độ lao động, thâm
niên công tác và kinh nghiệm, mức độ hoàn thành công việc,
+ Nhóm nhân tố thuộc giá trị công việc: mức độ hấp dẫn của công việc, mức
độ phức tạp của công việc, điều kiện thực hiện công việc,
+ Các nhân tố khác như: giới tính, độ tuổi, thành thị và nông thôn,
Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Sinh viên: Nguyễn Phƣơng Thu_QTL302K 10
1.1.2.2 Các hình thức trả lương.
Các doanh nghiệp hiện nay thực hiện tuyển dụng lao động theo chế độ hợp
đồng lao động. Người lao động phải tuân thủ những điều cam kết trong hợp đồng
lao động, còn doanh nghiệp phải đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong đó
có tiền lương và các khoản khác theo quy định trong hợp đồng.
Hiện nay thang bậc lương cơ bản được Nhà nước quy định, nhà nước khống
chế mức lương tối thiểu, không khống chế mức lương tối đa mà điều tiết bằng thuế
thu nhập của người lao động.
Việc tính trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp được thực hiện
theo các hình thức trả lương như sau:
* Hình thức tiền lương trả theo thời gian lao động:
– Khái niệm: tiền lương thời gian là hình thức tiền lương tính theo thời gian làm
việc cấp bậc kỹ thuật hoặc chức danh và thang bậc lương theo quy định.
– Nội dung: tuỳ theo yêu cầu trình độ quản lý thời gian lao động của doanh
nghiệp, tính trả lương theo thời gian có thể thực hiện theo hai cách như sau:
+ Hình thức tiền lương thời gian giản đơn: là tiền lương được tính theo thời
gian làm việc và đơn giá lương thời gian. Công thức :
Tiền lương = Thời gian làm x Đơn giá tiền lương thời gian
thời gian việc thực tế hay mức lương thời gian
Tiền lương thời gian giản đơn gồm :
+ Tiền lương tháng: là tiền lương trả cho người lao động theo thang bậc lương quy
định gồm tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp như : phụ cấp độc hại, phụ cấp
khu vực … ( nếu có )
Tiền lương tháng chủ yếu được áp dụng cho công nhân viên công tác quản lý hành
chính, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên thuộc các ngành hoạt động không có
tính chất sản xuất.
Mi = Mn x Hi + (Mn x Hi + Hp )
Mi : Mức lương lao động bậc i
Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Sinh viên: Nguyễn Phƣơng Thu_QTL302K 11
Mn: Mức lương tối thiểu
Hi : Hệ số cấp bậc lương bậc i
Hp : Hệ số phụ cấp
+ Tiền lương tuần : là tiền lương trả cho một tuần làm việc
Tiền lương tuần = Tiền lương tháng x 12 tháng
phải trả 52 tuần
+ Tiền lương ngày : là tiền lương trả cho một ngày làm việc và là căn cứ để tính trợ
cấp BHXH phải trả cho cán bộ công nhân viên, trả lương cho công nhân viên
những ngày họp, học tập và lương hợp đồng
Hình thức tiền lương thời gian có thưởng: là kết hợp giữa hình thức tiền lương giản
đơn với chế độ tiền thưởng trong sản xuất.
Tiền thưởng có tính chất lượng như: thưởng năng suất lao động cao, tiết kiệm
nguyên vật liệu, tỷ lệ sản phẩm có chất lượng cao.
Ưu nhược điểm của hình thức tiền lương thời gian :
– Ưu điểm: đã tính đến thời gian làm việc thực tế, tính toán giản đơn, có thể
lập bảng tính sẵn.
– Nhược điểm: chưa đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động, chưa gắn
liền với chất lượng lao động.
* Hình thức tiền lương trả theo sản phẩm
– Khái niệm: là hình thức tiền luơng trả cho người lao động tính theo số lượng sản
phẩm, công việc chất lượng sản phẩm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo chất lượng
quy định và đơn giá lượng sản phẩm.
Tiền lương ngày = Tiền lương tháng
Số ngày làm việc theo chế độ quy định
Tiền lương = Tiền lương thời x Tiền th

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Hoàn thiện công tác kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại Công Ty Cổ Phần Vinatro

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *