[block id=”bo-sung-1″]

Trong nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp sản xuất là tế bào của nền kinh
tế. Đây là nơi trực tiếp sáng tạo ra cơ sở vật chất cho xã hội, cũng nhƣ bất kỳ
một doanh nghiệp sản xuất nào, doanh nghiệp xây dựng trong quá trình hoạt
động kinh doanh của mình đều phải tính toán chi phí bỏ ra và kết quả thu về,
nhất là trong nền kinh tế thị trƣờng, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển đƣợc
hay không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có đảm bảo bù đắp đƣợc chi phí bỏ
ra trong quá trình sản xuất và có lãi.
Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố quan trọng không thể thiếu của quá
trình sản xuất.Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một lần trong một chu kỳ sản
xuất và hình thái vật chất ban đầu của vật liệu bị biến đổi chuyển hoá kết tinh
vào sản phẩm về cả mặt hiện vật cũng nhƣ mặt giá trị. Do đó chi phí vật liệu
chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Muốn cho quá
trình sản xuất kinh doanh đƣợc thƣờng xuyên liên tục thu nhập đủ bù đắp chi phí
có lãi đòi hỏi doanh nghiệp phải phấn đấu tiết kiệm chí phí sản xuất hạ giá thành
sản phẩm bằng cách tiến hành kết hợp nhiều biện pháp đồng bộ.Trên giác độ của
kế toán để thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình thì việc quản lý, hạch
toán chính xác vật liệu (nhất là trong lĩnh vực xây dựng cơ bản) vào giá thành
sản phẩm là cần thiết và quan trọng.

de_tai_hoan_thien_hach_toan_ke_toan_nguyen_vat_lieu_tai

pdf91 trang | Chia sẻ: thuychi21 | Ngày: 02/12/2015 | Lượt xem: 979 | Lượt tải: 3download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Hoàn thiện hạch toán kế toán nguyên vật liệu tại công ty TNHH Trung Hạnh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hà 1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp sản xuất là tế bào của nền kinh
tế. Đây là nơi trực tiếp sáng tạo ra cơ sở vật chất cho xã hội, cũng nhƣ bất kỳ
một doanh nghiệp sản xuất nào, doanh nghiệp xây dựng trong quá trình hoạt
động kinh doanh của mình đều phải tính toán chi phí bỏ ra và kết quả thu về,
nhất là trong nền kinh tế thị trƣờng, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển đƣợc
hay không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có đảm bảo bù đắp đƣợc chi phí bỏ
ra trong quá trình sản xuất và có lãi.
Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố quan trọng không thể thiếu của quá
trình sản xuất.Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một lần trong một chu kỳ sản
xuất và hình thái vật chất ban đầu của vật liệu bị biến đổi chuyển hoá kết tinh
vào sản phẩm về cả mặt hiện vật cũng nhƣ mặt giá trị. Do đó chi phí vật liệu
chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Muốn cho quá
trình sản xuất kinh doanh đƣợc thƣờng xuyên liên tục thu nhập đủ bù đắp chi phí
có lãi đòi hỏi doanh nghiệp phải phấn đấu tiết kiệm chí phí sản xuất hạ giá thành
sản phẩm bằng cách tiến hành kết hợp nhiều biện pháp đồng bộ.Trên giác độ của
kế toán để thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình thì việc quản lý, hạch
toán chính xác vật liệu (nhất là trong lĩnh vực xây dựng cơ bản) vào giá thành
sản phẩm là cần thiết và quan trọng.
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của công tác kế toán nguyên vật liệu
trong việc quản lý chi phí của doanh nghiệp. Trong thời gian thực tập tại Công
ty TNHH Trung Hạnh em đã đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu nguyên vật liệu, kế
toán nguyên vật liệu và chọn đề tài cho khoá luận tốt nghiệp là:”Hoàn thiện
hạch toán kế toán nguyên vật liệu tại công ty TNHH Trung Hạnh “.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hà 2
Khoá luận ngoài lời mở đầu và kết luận gồm có 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về nguyên vật liệu và tổ chức kế toán
nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp.
Chương 2: Tổ chức công tác hạch toán kế toán nguyên vật liệu ở công
ty TNHH Trung Hạnh.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hạch toán kế toán
nguyên vật liệu tại công ty TNHH Trung Hạnh.
Mặc dù bản thân đã nỗ lực cố gắng để hoàn thành bài khoá luận một cách
tốt nhất song do khả năng và thời gian có hạn nên em không thể tránh khỏi
những sai sót. Em mong nhận đƣợc những nhận xét, đánh giá, góp ý của các cô
chú trong phòng kế toán công ty, các thầy cô giáo để em có điều kiện bổ sung,
hoàn thiện khoá luận và nâng cao kiến thức của mình phục vụ tốt cho quá trình
công tác thực tế sau này.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hà 3
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ
TỔ CHỨC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận Chung về nguyên vật liệu
1.1.1. Khái niệm, đặc diểm, vai trò, vị trí của nguyên vật liệu trong các
doanh nghiệp.
1.1.1.1. Khái niệm:
Nguyên vật liệu là những đối tƣợng lao động thể hiện dƣới dạng vật
hoá, là tài sản dự trữ ngắn hạn của doanh nghiệp.
1.1.1.2. Đặc điểm:
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh vật liệu có
đặc điểm sau:
Về mặt hiện vật: Vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh
doanh nhất định và khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, dƣới tác
động của sức lao động và máy móc thiết bị chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc bị
thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo ra một hình thái vật chất của sản
phẩm. Do vậy, nguyên vật liệu đƣợc coi là cơ sở vật chất, là yếu tố không thể
thiếu đƣợc của bất cứ quá trình sản xuất nào, đặc biệt là đối với quá trình hình
thành sản phẩm mới trong doanh nghiệp sản xuất.
Về mặt giá trị: Khi tham gia vào quá trình sản xuất, vật liệu chuyển dịch
một lần toàn bộ giá trị của chúng vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ và
hình thành nên chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Đặc điểm này cũng là một đặc
điểm dùng để nhận biết nguyên vật liệu với các tƣ liệu lao động khác. Chi phí vế
các loại vật liệu thƣờng chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất. Ví dụ nhƣ: trong giá thành sản
phẩm công nghiệp cơ khí, chi phí vật liệu chiếm từ 50%- 60%; trong giá thành
sản phẩm công nghiệp chế biến, nguyên vật liệu chiếm khoảng 70%; trong giá
thành sản phẩm công nghiệp nhẹ, nguyên vật liệu chiếm 60%.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hà 4
Mặt khác, xét về mặt vốn thì vật liệu là thành phần quan trọng của vốn
lƣu động trong doanh nghiệp, đặc biệt là vỗn dự trữ. Để nâng cao hiệu quả sử
dụngvốn, cần phải tăng tốc độ luân chuyển của vốn lƣu động và điều đó không
thể tách rời việc dự trữ và sử dụng vật liệu một cách hợp lý và hiệu quả.
Trong doanh nghiệp sản xuất thì nguyên vật liệu là đối tƣợng lao động cho
doanh nghiệp sản xuất mua ngoài, tự sản xuất…. dùng cho mục đích sản xuất
kinh doanh. Nhƣ vậy, nguyên vật liệu có một giá trị quan trọng không thể phủ
nhận đƣợc trong quá trình sản xuất.
1.1.1.3. Vai trò:
Đối với các doanh nghiệp sản xuất thì nguyên vật liệu là đối tƣợng không
thể thiếu, nó giữ vai trò tiên quyết trong quá trình sản xuất sản phẩm. Nguyên
vật liệu tạo nên thực thể của sản phẩm, không có nguyên vật liệu doanh nghiệp
không thể tạo ra sản phẩm của mình.
Muốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tiến hành
một cách đều đặn, liên tục phải thƣờng xuyên đảm bảo cho các nguyên vật liệu
đủ về số lƣợng, kịp thời về thời gian, đúng quy cách về phẩm chất. Đây là vấn
đề bắt buộc, nếu thiếu thì không thể có quá trình sản xuất đƣợc.
Trong doanh nghiệp sản xuất chi phí nguyên vật liệu thƣờng chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng số cho phí sản xuất sản phẩm. Do đó việc dảm bảo cung
ứng dự trữ, sử dụng tiết kiệm các loại nguyên vật liệu có tác đọng mạnh mẽ đến
các hoạt động sảc xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì:
Cung ứng dự trữ đồng bộ, kịp thời và chính xác nguyên vật liệu là
điều kiện có tính chất tiền đề cho sự liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Đảm bảo cung cấp nguên vật liệu có chất lƣợng tốt là điều kiện nâng
cao chất lƣợng sản phẩm góp phần sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu, tăng năng
xuất lao động.
Đảm bảo cung ứng sử dụng tiết kiệm, dự trữ đầy đủ nguyên vật liệu còn
ảnh hƣởng tích cực đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, ảnh hƣởng đến
giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hà 5
Nhƣ vậy, doanh nghiệp tổ chức cung cấp vật liệu một cách hợp lý, đảm bảo
đủ số lƣợng, đồng bộ đúng phẩm chất và đúng thời gian sẽ là điều kiện chủ yếu
để có thể hoàn thành kế hoạch và vƣợt mức kế hoạch sản xuất.
1.1.1.4. Vị trí:
Nguyên vật liệu có vị trí hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, nếu thiếu nguyên vật liệu thì không thể tiến hành đuợc
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2. Sự cần thiết phải quản lý nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất
kinh doanh
1.1.2.1. Sự cần thiết của quản lý nguyên vật liệu:
Để hoạt động sản xuất kinh doanh có thể diễn ra thì phải có nguyên vậ liệu,
vậy nên quản lý nguyên vật liệu là nhân tố quan trọng của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, ở mỗi doanh nghiệp khác nhau thì lại có phạm vi, mức độ, phƣơng
pháp quản lý khác nhau. Khi kinh tế ngày càng phát triển thì các phƣơng pháp
quản lý cũng trở lên hoàn thiện hơn vì vậy các doanh nghiệp phải áp dụng
phƣơng pháp quản lý phù hợp với công tác sản xuất của mình nhằm đạt đƣợc
hiệu quả tối ƣu nhất.
1.1.2.2. Mục tiêu của việc quản lý nguyên vật liệu:
Chi phí về các loại nguyên vật liệu thƣờng chiếm một tỷ trọng lớn trong
toàn bộ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
Mà mục đích cuối cùng cuả các doanh nghiệp là lợi nhuận vì vậy giảm chi phí là
cách tốt nhất để các doanh nghiệp đạt đƣợc mục đích của mìn. Việc sử
dụngnguyên vật liệu một cách tiết kiệm, hợp lý chính là biện pháp tốt nhất để
giảm chi phí mà vẫn nâng cao đƣợc chất lƣợng sản phẩm. Nhƣ vậy thực hiện tốt
việc quản lý nguyên vật liệu ở tất cả các khâu sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao
hơn trong sản xuất kinh doanh.
1.1.2.3. Yêu cầu quản lý nguyên vật liệu:
Việc quản lý nguyên vật liêụ cần phải thực hiện tốt và chặt chẽ ở tất cả các
khâu:
Trong khâu thu mua nguyên vật liệu phải quản lí về khối lƣợng, quy cách,
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hà 6
chủng loại, giá mua, thuế GTGT đƣợc khấu trừ và chi phí mua. Đồng thời phải
thực hiện kế hoạch mua theo đúng tiến độ, thời gian phù hợp với kế hoạch sản
xuất kinh doanh của doanh nghiêp.
Trong quá trình bảo quản nguyên vật liệu phải tổ chức tốt kho tàng bến bãi,
xây dựng và thực hiện tốt chế độ bảo quản đối với từng thứ nguyên vật liệu,
tránh hƣ hỏng, mất mát, hao hụt nhằm đảm bảo an toàn cho nguyên vật liệu cả
về số lƣợng, chất lƣợng và cả về giá trị.
Trong khâu sử dụng nguyên vật liệu cần phải tổ chức tốt việc ghi chép,
phản ánh tình hình xuất dùng và sử dụng nguyên vật liệu. Trên cơ sở đó so sánh
với định mức, dự toán chi phí, đánh giá hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu. Từ đó
tìm biện pháp sử dụng nguyên vật liệu, hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm tăng thu nhập và tích lũy cho doanh nghiệp.
Trong khâu dự trữ đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định đƣợc định mức tối
đa, tối thiểu nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất đƣợc tiến hành bình thƣờng
không bị ngƣng trệ do thiếu nguyên vật liệu hoặc gây tình trạng ứ đọng vốn do
dự trữ quá nhiều.
Tóm lại, quản lý nguyên vật liệu là mọtt trong những nội dung hết sức quan
trọng của công tác quản lý nói chung và quản lý sản xuất, quản lý giá thành sản
phẩm nói riêng mà các nhà lãnh đạo doanh nghiệp luôn phải đặc biệt quan tâm.
1.1.3. Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu
Để có thể đáp ứng yêu cầu quản lý, tổ chức kế toán nguyên vật liệu cần
phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
+ Tổ chức hệ thống chứng từ cần tuân thủ các quy định về mẫu của Bộ Tài
chính, thời gian lập, trình tự luân chuyển, bảo quản và lƣu trữ chứng từ. Trình tự
luân chuyển phải đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin cho những ngƣời quản lý
nguyên vật liệu, bảo đảm sự an toàn cho chứng từ, cập nhật vào sổ kế toán đầy
đủ, kịp thời, tránh sự trùng lặp hoặc luân chuyển chứng từ qua những khâu
không cần thiết và phải giảm thời gian luân chuyển chứng từ tới mức thấp nhất.
+ Hệ thống tài khoản kế toán vận dụng phải đảm bảo nguyên tắc thống nhất
và nguyên tắc thích ứng. Tài khoản tổng hợp của doanh nghiệp xây dựng căn cứ
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hà 7
vào chế độ kế toán và thống nhất chung theo chế độ ban hành. Bên cạnh đó các
tài khoản chi tiết đƣợc xây dựng dựa trên đặc điểm riêng của doanh nghiệp sao
cho phù hợp với công tác kế toán của doanh nghiệp và tạo điều kiện thuận lợi
nhất cho công tác kế toán.
+ Tổ chức hệ thống sổ sách kế toán nguyên vật liệu cũng cần đảm bảo hai
nguyên tắc thống nhất và thích ứng, xây dựng đầy đủ các loại sổ bắt buộc do Bộ
Tài chính ban hành đồng thời xây dựng các loại sổ phục vụ cho quản lý nguyên
vật liệu cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời.
+ Các báo cáo về nguyên vật liệu cũng cần đƣợc xây dựng theo đúng chế
độ kế toán ban hành, đảm bảo lập đúng kỳ và đƣợc chuyển đến các bộ phận
chức năng quản lý nguyên vật liệu…..
1.2. Tổ chức kế toán nguyên vật liệu
1.2.1. Phân loại và đánh giá nguyên vật liểu trong doanh nghiệp
1.2.1.1. Phân loại:
Trong các doanh nghiệp, vật liệu rất đa dạng và phong phú, mỗi loại có
một vai trò, công dụng và tính năng lý hoá khác nhau. Vì vậy để quản lý vật liệu
một cách có hiệu quả, các doanh nghiệp tiến hành phân loại vật liệu.
Tuỳ theo yêu cầu quản lý vật liệu mà từng doanh nghiệp thực hiện phân
loại theo các cách:
 Phân loại NVL theo nội dung kinh tế và yêu cầu quản trị trong DNSX:
+ Nguyên vật liệu chính ( Bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài): Đối
với các doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu chính là đối tƣợng chủ yếu cấu
thành nên thực thể sản phẩm nhƣ; tôn, đồng, sắt, thép trong các doanh nghiệp
chế toạ máy, cơ khí, xây dựng cơ bản; bông, sợi trong các doanh nghiệp dệt vải,
trong các xí nghiệp may…..Đối với nửa thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp
tục quá trình sản xuất sản phẩm, ví dụ nhƣ: sợi mua ngoài trong các doanh
nghiệp dệt cũng đƣợcc coi là là nguyên vật liệu chính.
+ Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi sử dụng chỉ có tác dụng phụ có
thể làm tăng chất lƣợng sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm hoặc đảm bảo cho công
cụ, dụng cụ hoạt động đƣợc bình thƣờng.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hà 8
+ Nhiên liệu: Là các chất dùng để tạo ra nâƣng lƣợng cung cấp nhiệt
lƣợng cho quá trình sản xuất kinh doanh nhƣ hơi đốt, dầu , khí nén,xăng….Nhiên
liệu thực chất là một loại vật liệu phụ đƣợc tách ra thành một nhóm riêng do vai
trò quan trọng của nó và để nhằm mục đích dễ quản lý và hạch toán hơn. Dựa
vào tác dụng của nhiên liệu trong quá trình sản xuất có thể chia nhiên liệu thành
những nhóm sau:
Nhiên liệu dùng trực tiếp cho sản xuất
Nhiên liệu sử dụng cho máy móc thiết bị.
+ Phụ tùng thay thế: Là các loại phụ tùng, chi tiết đƣợc sử dụng để thay thế,
sửa chữa máy móc, thiết bị, phƣơng tiện vận tải, công cụ, dụng cụ sản xuất…
+ Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm những vật liệu, thiết bị,
công cụ, khí cụ, vật kết cấu dùng cho công tác xây dựng cơ bản.
+ Phế liệu: Là các loại vật liệu thu đƣợc trong quá trình sản xuất, hay
thanh lý tài sản, có thể sử dụng hay bán ra ngoài.
+ Vật liệu khác: Là những loại vật liệu chƣa đƣợc xếp vào các loại trên
thƣờng là những vật liệu đƣợc loại ra từ quá trình sản xuất hoặc phế liệu thu hồi
từ thanh lí TSCĐ..
Ngoài ra tùy thuộc vào yêu cầu quản lí và hạch toán chi tiết của doanh
nghiệp mà trong từng loại nguyên vật liệu trên chia thành từng nhóm, từng thứ.
Cách phân loại này là cơ sở để xác định định mức tiêu hao, định mức dự trữ cho
từng loại, từng thứ nguyên vật liệu là cơ sở để hạch toán chi tiết đƣợc nguyên
vật liệu trong doanh nghiệp.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hà 9
 Phân loại NVL theo nguồn hình thành
+ Nguyên vật liệu nhập từ bên ngoài: Do mua ngoài, nhận vốn góp liên
doanh, nhận biếu tặng….
+ Nguyên vật liệu tự chế: Là do doanh nghiệp tự sản xuất.
Phân loại nguyên vật liệu theo nguồn cung cấp là việc căn cứ cho việc lập
kế hoạch cho việc thu mua và kế hoạch sản xuất, là cơ sở để xác định giá
nguyên vật liệu nhập kho.
 Phân loại NVL theo mục đích, công dụng:
+ Nguyên vật liệu dùng cho sản xuất kinh doanh
+ Nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất chế tạo sản phẩm.
+ Nguyên vật liệu dùng cho quản lí ở các phân xƣởng, dùng cho bộ phận
bán hàng, bộ phận quản lí doanh nghiệp.
+ Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu khác:
+ Nhƣợng bán
+ Đem góp vốn liên doanh
+…….
Cách phân loại này là căn cứ để kế toán tính toán và phân bổ chính xác
giá trị nguyên vật liệu xuất dùng cho đối tƣợng khác nhau.
Tóm lại, căn cứ để phân loại nguyên vật liệu chỉ là tƣơng đối, có trƣờng hợp
nguyên vật liệu phụ ở hoạt động này nhƣng lại là nguyên vật liệu chính ở hoạt động
hay doanh nghiệp khác. Mối doanh nghiệp có đặc điểm sản xuất kinh doanh khác
nhau nên sẽ có cách phân loại khác nhau để phù hợp với doanh nghiệp mình nhằm
đảm bảo tốt nhất cho việc hạch toán và quản lý nguyên vật liệu.
1.2.1.2. Đánh giá nguyên vật liệu
1.2.1.2.1. Các nguyên tắc chi phối đến đánh giá nguyên vật liệu:
Đánh giá nguyên vật liệu là dùng thƣớc đo tiền tệ biểu hiện giá trị của
chúng theo những nguyên tắc nhất định. Có 3 nguyên tắc cho phối việc đánh
giá nguyên vật liệu, đó là :
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hà 10
 Nguyên tắc giá gốc (còn gọi là giá phí, giá thành, giá lịch sử ) :
Tất cả các tài sản và hàng tồn kho ở doanh nghiệp đƣợc phản ánh trong sổ
kế toán và báo cáo tài chính đƣợc ghi chép theo giá gốc. Giá gốc bao gồm tất
cả các chi phí bình thƣờng và hợp lý mà doanh nghiệp bỏ ra để có tài sản và
sẵn sàng đƣa tài sản vào sử dụng.
 Nguyên tắc nhất quán :
Các phƣơng pháp áp dụng trong đánh giá nguyên vật liệu phải đảm bảo
tính nhất quán tức là kế toán chọn phƣơng pháp nào thì tính thống nhất theo
phƣơng pháp đó, nhất quán trong suốt niên độ kế toán.
 Nguyên tắc thận trọng:
Theo nguyên tắc này thì doanh nghiệp phải phản ánh đúng giá trị tài sản,
các nghiệp vụ làm tăng doanh thu và tăng vốn chỉ đƣợc ghi khi có chứng cứ
chắc chắn (có chứng từ), chi phí và các khoản làm giảm doanh thu, vốn chủ sở
hữu phải đƣợc ghi chép ngay dù chƣa có chứng cứ chắc chắn. Do đó trên bảng
cân đối kế toán, hàng tồn kho phải đƣợc phản ánh theo giá trị có thể thƣch hiện
đƣợc thuần tuý (theo giá gốc hoặc thấp hơn giá gốc). Nếu giá có thể thực hiện
đƣợccủa nguyên vật liệu giảm do vật liệu bị hƣ hỏng, kém hoặc mất phẩm
chất…. thì đơn vị phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
1.2.1.2.2. Ý nghĩa của việc đánh giá nguyên vật liệu:
Đánh giá vật liệu có ý nghĩa quan trọng trong việc hạch toán đúng đắn tình
hính tài sản cũng nhƣ chi phí sản xuất kinh doanh.
Đánh giá vật liệu thực chất là việc xác định giá trị ghi sổ của nguyên vật
liệu. Theo quy định vật liệu đƣợc tính theo giá thực tế (giá gốc), tức là vật liệu
khi nhập kho hay xuất kho đều đƣợc phản ánh trên sổ sách theo giá thực tế.
1.2.1.2.3. Các phương pháp đánh giá nguyên vật liệu:
Đánh giá vật liệu phụ thuộc vào phƣơng pháp quản lý và hạch toán vật liệu:
 Phƣơng pháp kê khai thƣờng xuyên: là phƣơng pháp đƣợc áp dụng phổ
biến hiện nay. Đặc điểm của phƣơng pháp này là mọi nghiệp vụ nhập, xuất
vật liệu đều đƣợc kế toán theo dõi, tính toán và ghi chép một cách thƣờng
xuyên theo quá trình phát sinh.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hà 11
 Phƣơng pháp kiểm kê định kỳ: có đặc điểm là trong kỳ kế toán chỉ theo
dõi, tính toán và ghi chép các nghiệp vụ nhập vật liệu, còn giá trị vật liệu xuất
chỉ đƣợc xác định một lần vào cuối kỳ khi có kết quả kiểm kê vật liệu hiện
còn cuối kỳ.
Trị giá vật
liệu xuất
trong kỳ
=
Trị giá vật
liệu đầu kỳ
+
Trị giá vật liệu
nhập trong kỳ

Trị giá vật
liệu cuối
kỳ
Có nhiều cách đánh giá vất liệu nhập, xuất kho nhƣng chúng ta có thể chia
ra thành hai phƣơng pháp chính là:
 Đánh giá nguyên vật liệu theo trị giá vốn thực tế
 Đánh giá nguyên vật liệu theo giá hạch toán
1.2.1.2.4. Đánh giá nguyên vật liệu theo trị giá vốn thực tế
 Xác định trị giá vốn thực tế nguyên vật liệu nhập kho
Tuỳ theo từng nguồn nhập mà trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu đƣợc
xác định nhƣ sau:
+ Nguyên vật liệu mua ngoài:
Giá nhập
kho
=
Giá mua
trên hoá
đơn
+
Chi phí
thu mua
+
Các khoản
thuế không
đƣợc hoàn lại

CKTM,
giảm giá
Trong đó :
Chi phí thu mua bao gồm : chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, phân
loại, bảo hiểm, chi phí thuê kho bãi. tiền phạt….
Lưu ý: Nguyên vật liệu mua từ nƣớc ngoài thì thuế nhập khẩu đƣợc tính
vào giá nhập kho. Khoản thuế GTGT khi thu mua nguyên vật liệu cũng đƣợc
tính vào giá nhập nếu doanh nghiệp không thuộc diện nộp thuế theo phƣơng
pháp khấu trừ.
Giá mua đƣợc xác định theo 2 trƣờng hợp:
 Trƣờng hợp doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuộc đối tƣợng nộp thuế
GTGT theo phƣơng pháp khấu trừ thuế thì giá mua là giá chƣa có thuế GTGT.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hà 12
 Trƣờng hợp doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không thuộc đối tƣợng
nộp thuế GTGT theo phƣơng pháp khấu trừ hoặc thuộc đối tƣợng nộp thuế
giá trị gia tăng theo phƣơng pháp trực tiếp thì giá mua là giá có thuế
GTGT(tổng giá thanh toán)
+ Nguyên liệu tự sản xuất:
Giá nhập
kho
= Giá thành sản xuất thực tế
+ Nhập kho vật liệu do tự gia công, chế biến:
Giá nhập
kho
=
Giá NVL xuất kho gia
công chế biến
+
Chi phí gia công chế
biến NVL
+ Nguyên vật liệu thuê ngoài gia công, chế biến:
Giá nhập
kho
=
Giá trị vật tƣ
xuất thuê ngoài
gia công chế
biến
+
Số tiền trả
cho đơn vị
nhận gia công
+
Chi

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Hoàn thiện hạch toán kế toán nguyên vật liệu tại công ty TNHH Trung Hạnh

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *