[block id=”bo-sung-1″]

Kinh doanh là hoạt động chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn do nhiều nguyên nhân khác nhau. Để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được duy trì ta phải dự phòng, hạn chế những rủi ro có thể dự đoán trước.
Trong kinh doanh, hoạt động tài chính ngày nay đã trở thành một hoạt động không thể thiếu, nó vừa hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh vừa góp phần để tạo ra lợi nhuận cho Doanh nghiệp. Hoạt động tài chính các Doanh nghiệp chủ yếu thường là đầu tư vào chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận, tuy nhiên giá cả chứng khoán trên thị trường luôn biến động.
Ngoài ra dự trữ hàng hoá của Doanh nghiệp, đặc biệt là Doanh nghiệp thương mại là lực lượng vật chất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong nền kinh tế quốc dân một cách thường xuyên, liên tục và đồng bộ.
Hàng tồn kho, các khoản nợ phải thu là bộ phận tài sản có giá trị lớn tại doanh nghiệp. Ngoài ra, hoạt động đầu tư vào các loại chứng khoán là hoạt động đầu tư nhằm khai thác và sử dụng nguồn lực tiền nhàn rỗi của doanh nghiệp cũng chứa đựng không ít rủi ro. Xuất phát từ nguyên tắc thận trọng của kế toán, việc trích lập dự phòng cho các khoản này trong doanh nghiệp là việc rất cần thiết.
Nhờ việc trích lập dự phòng này doanh nghiệp có thể hạn chế những rủi ro về mất ổn định nếu hàng tồn kho, các loại chứng khoán doanh nghiệp đã đầu tư bị giảm giá trên thị trường hoặc có những khoản nợ phải thu khách hàng không thể thu được.
Xuất phát từ những suy nghĩ đó, em đã chọn đề tài: “Xác định và hạch toán các khoản dự phòng trong Doanh nghiệp ” làm đề án môn học của mình.

Đề tài gồm có 3 phần:
Phần I : Các phương pháp xác định và hạch toán các khoản dự phòng trong hệ thống kế toán Việt Nam
Phần II : Kế toán các khoản dự phòng trong hệ thống kế toán Pháp và Mỹ
Phần III : Một số suy nghĩ về trích lập các khoản dự phòng trong hệ thống kế toán Việt Nam

de_tai_mot_so_suy_nghi_ve_trich_lap_cac_khoan_du_phong_trong

 

doc26 trang | Chia sẻ: superlens | Ngày: 21/09/2015 | Lượt xem: 1188 | Lượt tải: 3download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Một số suy nghĩ về trích lập các khoản dự phòng trong hệ thống kế toán Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

LỜI MỞ ĐẦU
Kinh doanh là hoạt động chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn do nhiều nguyên nhân khác nhau. Để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được duy trì ta phải dự phòng, hạn chế những rủi ro có thể dự đoán trước.
Trong kinh doanh, hoạt động tài chính ngày nay đã trở thành một hoạt động không thể thiếu, nó vừa hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh vừa góp phần để tạo ra lợi nhuận cho Doanh nghiệp. Hoạt động tài chính các Doanh nghiệp chủ yếu thường là đầu tư vào chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận, tuy nhiên giá cả chứng khoán trên thị trường luôn biến động.
Ngoài ra dự trữ hàng hoá của Doanh nghiệp, đặc biệt là Doanh nghiệp thương mại là lực lượng vật chất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong nền kinh tế quốc dân một cách thường xuyên, liên tục và đồng bộ.
Hàng tồn kho, các khoản nợ phải thu là bộ phận tài sản có giá trị lớn tại doanh nghiệp. Ngoài ra, hoạt động đầu tư vào các loại chứng khoán là hoạt động đầu tư nhằm khai thác và sử dụng nguồn lực tiền nhàn rỗi của doanh nghiệp cũng chứa đựng không ít rủi ro. Xuất phát từ nguyên tắc thận trọng của kế toán, việc trích lập dự phòng cho các khoản này trong doanh nghiệp là việc rất cần thiết.
Nhờ việc trích lập dự phòng này doanh nghiệp có thể hạn chế những rủi ro về mất ổn định nếu hàng tồn kho, các loại chứng khoán doanh nghiệp đã đầu tư bị giảm giá trên thị trường hoặc có những khoản nợ phải thu khách hàng không thể thu được.
Xuất phát từ những suy nghĩ đó, em đã chọn đề tài: “Xác định và hạch toán các khoản dự phòng trong Doanh nghiệp ” làm đề án môn học của mình.
Đề tài gồm có 3 phần:
Phần I : Các phương pháp xác định và hạch toán các khoản dự phòng trong hệ thống kế toán Việt Nam
Phần II : Kế toán các khoản dự phòng trong hệ thống kế toán Pháp và Mỹ
Phần III : Một số suy nghĩ về trích lập các khoản dự phòng trong hệ thống kế toán Việt Nam
Mặc dù rất cố gắn, nhưng do hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân về vấn đề này, nên chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến và giúp đỡ của các thầy cô để đề tài này được hoàn thiện hơn.
Em xin trân thành cám ơn cô !
PHẦN I : CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VÀ HẠCH TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG TRONG HỆ THỐNG KẾ TOÁN VIỆT NAM
1.Khái quát chung về các khoản dự phòng
1.1. Khái niệm chung về dự phòng:
Dự phòng là sự xác nhận về phương diện kế toán một khoản giảm giá trị tài sản do những nguyên nhân mà hậu quả của chúng cũng không chắc chắn. Như vậy, dự phòng mới chỉ là việc xác nhận trên phương diện kế toán khoản giảm giá trị tài sản chứ thực tế chưa xảy ra, bởi vì tài sản này Doanh nghiệp vẫn đang nắm giữ, đang quản lý chưa chuyển đổi hay nhượng bán.
1.2. Ý nghĩa của việc lập dự phòng:
Các khoản dự phòng có một vai trò quan trọng đối với Doanh nghiệp, vai trò đó được thể hiện trên các phương diện sau:
– Phương diện kinh tê : nhờ có tài khoản dự phòng mà bảng cân đối kế toán của Doanh nghiệp phản ánh chính xác hơn giá trị thực tế của tài sản.
Giá trị thực tế tài sản của Doanh nghiệp được xác định như sau :
Giá trị thực tế của = Giá trị ghi sổ của _ Dự phòng giảm giá
Tài sản Tài sản Tài sản đã lập
– Phương diện tài chính: do dự phòng giảm giá có tác dụng làm giảm lợi nhuận của niên độ nên Doanh nghiệp có được một khoản tích luỹ đáng lẽ đã được phân chia. Khoản tích luỹ này được sử dụng để bù đắp các khoản giảm giá tài sản thực sự phát sinh và tài trợ các khoản chi phí hay lỗ đã được dự phòng, khi các khoản chi phí này thực sự phát sinh ở niên độ sau này.
Thực chất, các khoản dự phòng tài chính của Doanh nghiệp tạm thời nằm trong các tài sản lưu động trước khi sử dụng thực thụ.
– Phương diện thuế khoá: dự phòng được ghi nhận như một khoản chi phí hợp lý làm giảm lợi nhuận, phát sinh để tính toán ra số lợi nhuận thực tế.
1.3. Thời điểm lập và nguyên tắc lập:
Thời điểm tiến hành lập dự phòng giảm giá là thời điểm cuối niên độ kế toán, trước khi lập các Báo cáo tài chính. Trên cơ sở các bằng chứng tin cậy về sự giảm giá của từng đối tượng cụ thể, kế toán sẽ xác định số dự phòng cần lập cho niên độ tới với điều kiện số dự phòng không được vượt quá số lợi nhuận thực tế phát sinh của Doanh nghiệp.
Về nguyên tắc, việc lập dự phòng phải được tiến hành riêng cho từng loại vật tư, hàng hoá, chứng khoán và từng khoản nợ phải thu khó đòi. Sau đó phải tổng hợp toàn bộ các khoản dự phòng vào bảng kê chi tiết dự phòng từng loại. Để thẩm định mức độ giảm giá của các loại vật tư, hàng hoá, chứng khoán và xác định các khoản nợ phải thu khó đòi Doanh nghiệp phải thành lập Hội đồng các thành viên bắt buộc là giám đốc, kế toán trưởng, trưởng phòng vật tư hoặc trưởng phòng kinh doanh.
1.4. Phân loại các khoản dự phòng:
Theo nội dung kinh tế, các khoản dự phòng được chia làm các loai sau:
Dự phòng giảm giá trong đầu tư tài chính: gồm giảm giá chứng khoán ngắn hạn và giảm giá chứng khoán dài hạn.
Dự phòng giảm giá chứng khoán là bộ phận giá trị dự tính bị giảm giá của chứng khoán đầu tư nhằm ghi nhận các khoản lỗ có thể phát sinh nhưng chưa chắc chắn. Đồng thời qua đó phản ánh giá trị thực của các khoản đầu tư tài chính. Giá trị thực của chứng khoán đầu tư là giá trị dự tính có thể chuyển hoá thành tiền của các loại chứng khoán.
Giá trị thực của = Giá trị thực tế ghi sổ _ Số dự phòng giảm giá
chứng khoán của chứng khoán đã lập của chứng khoán
(giá trị thực hiện thuần)
Giá trị thực hiện thuần của chứng khoán đầu tư là giá trị có thể chuyển hoá thành tiền của chứng khoán.
Dự phòng phải thu khó đòi :
Để dự phòng những khoản tổn thất về các khoán phải thu khó đòi có thể xảy ra, bảo đảm phù hợp giữa doanh thu và chi phí trong kỳ. Cuối mỗi niên độ, kế toán phải dự tính số nợ khó đòi để lập dự phòng.
Các khoản nợ phải thu khó đòi phải có tên, địa chỉ, nội dung từng khoản nợ, số tiền phải thu của từng con nợ, trong đó ghi rõ số nợ phải thu khó đòi. Đồng thời doanh nghiệp phải có chứng từ gốc hoặc xác nhận của con nợ về số tiền còn nợ chưa trả.
Đây là khoản nợ đã quá hạn hai năm hoặc chưa quá hạn hai năm nhưng con nợ đang trong thời gian xem xét giải thể, phá sản hoặc có các dấu hiệu khác như bỏ trốn, đang bị giam giữ, xét hỏi…
Mức dự phòng khoản nợ phải thu khó đòi tối đa không vượt quá 20% tổng số dư nợ phải thu của doanh nghiệp, tại thời điểm cuối năm và bảo đảm cho doanh nghiệp không bị lỗ.
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho :
Dự phòng là khoản dự tính trước để dựa vào chi phi sản xuất kinh doanh phần giá trị bị giảm xuống thấp hơn giá trị ghi sổ sách của hàng tồn kho. Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho nhằm bù đắp các khoản thiệt hại thực tế xảy ra do vật tư, sản phẩm, hàng hoá tồn kho bị giảm giá; đồng thời cũng để phản ánh đúng giá trị thuần hàng tồn kho của Doanh nghiệp khi lập báo cáo tài chính vào cuối kỳ kế toán.
1.5. Nhiệm vụ hạch toán các khoản dự phòng:
Xác định số lượng từng loại chứng khoán, từng loại hàng tồn kho và từng khoản phải thu khó đòi hiện có cuối niên độ kế toán có dấu hiệu giảm giá hay khó đòi để lập dự phòng.
Xác định mức dự phòng giảm giá cần lập của từng loại hàng tồn kho, từng loại chứng khoán và từng khoản phải thu khó đòi cho niên độ tới.
Hoàn nhập dự phòng giảm giá của từng loại hàng tồn kho, từng loại chứng khoán và từng loại phải thu khó đòi nếu mức dự phòng cần lập nhỏ hơn số dự phòng còn vào cuối niên độ kế toán.
Trích lập thêm dự phòng giảm giá của từng loại hàng tồn kho, từng loại chứng khoán và từng khoản phải thu khó đòi cho niên độ tới, nếu mức dự phòng cần lập lớn hơn số dự phòng còn của năm trước.
2. Nội dung của các khoản dự phòng
2.1.Kế toán dự phòng giảm giá chứng khoán trong đầu tư tài chính:
2.1.1. Khái niệm:
Đầu tư tài chính là hoạt động khai thác, sử dụng nguồn lực tiền nhàn rỗi của Doanh nghiệp để đầu tư ra ngoài Doanh nghiệp nhằm tăng thu nhập và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp.
Nói cách khác, tiền vốn được huy động từ mọi nguồn lực của Doanh nghiệp, ngoài việc sử dụng để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp còn có thể tận dụng để đầu tư vào các lĩnh vực khác để nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn, làm lợi vốn như: đầu tư vào thị trường chứng khoán, góp vốn liên doanh, cho vay vốn… các hoạt động này chính là hoạt động tài chính của Doanh nghiệp.
Quá trình Doanh nghiệp bỏ vốn ra đầu tư chứng khoán để kiếm lời có thể gặp rủi ro do sự giảm giá của chứng khoán hoặc đơn vị phát hành cổ phiếu bị phá sản. Xuất phát từ nguyên tắc thận trọng của kế toán, Doanh nghiệp phải lập các khoản dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán.
Dự phòng giảm giá chứng khoản trong hoạt động tài chính là dự phòng giá trị dự kiến bị tổn thất do giảm giá các loại chứng khoán có thể xảy ra trong năm kế hoạch.
Dự phòng giảm giá chứng khoán được trích trước vào hoạt động của năm báo cáo để ghi nhận trước giá trị các khoản tổn thất có thể xảy ra trong năm kế hoạch, nhằm bảo toàn nguồn vốn kinh doanh. Thế nhưng, theo nguyên tắc hạch toán kế toán hiện hành, khoản tổn thất này đã được phản ánh trong kết quả kinh doanh, vì vậy trường hợp vào cuối năm tài chính nếu số dự phòng giảm giá chứng khoán cần lập cho năm đến nhỏ hơn số dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư ngắn hạn, dài hạn đã lập ở cuối niên độ kế toán năm trước thì Doanh nghiệp phải hoàn nhập số chênh lệch đó, đồng thời ghi giảm chi phí hoạt động tài chính cho năm đó. Vì thế, mục đích của việc lập dự phòng giảm giá chứng khoán hiện này chỉ nhằm phản ánh giá trị thực hiện thuần của chứng khoán đầu tư trên Báo cáo tài chính.
2.1.2. Nguyên tắc kế toán:
Chỉ lập dự phòng vào cuối niên độ kế toán khi khoá sổ kế toán để lập báo cáo tài chính năm, nếu có những bằng chứng đáng tin cậy về sự giảm giá thường xuyên của các loại chứng khoán mà Doanh nghiệp đang nắm giữ, theo các qui định tài chính hiện hành và các qui định có tính pháp lý về hoạt động của Doanh nghiệp.
Theo chế độ hiện hành thì việc trích lập các khoản dự phòng không được vượt quá số lợi nhuận phát sinh của Doanh nghiệp và có các bằng chứng sau:
Là chứng khoán được Doanh nghiệp đầu tư theo đúng qui định của pháp luật.
Được tự do mua bán trên thị trường mà tại thời điểm kiểm kê, lập báo cáo tài chính có giá trị thị trường giảm so với giá đang hạch toán trên sổ sách kế toán.
Khi lập dự phòng, Doanh nghiệp phải lập hội đồng để thẩm định mức độ giảm gía của chứng khoán.
Doanh nghiệp phải lập dự phòng cho từng loại chứng khoán đầu tư có biến động giảm giá tại thời điểm 31/12 năm báo cáo theo công thức sau:
Mức dự phòng Số lượng chứng khoán Giá chứng khoán Giá chứng khoán
giảm giá đầu tư = bị giảm giá tại thời điểm * hạch toán trên sổ – thực tế trên
CK cho năm KH 31/12 năm BC kế toán thị trường
Doanh nghiệp phải lập dự phòng riêng cho từng loại chứng khoán bị giảm giá và được tổng hợp vào bảng kê chi tiết dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư, làm căn cứ hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính của Doanh nghiệp.
2.1.3. Phương pháp kế toán:
Tài khoản sử dụng:
Tài khoản 129 ” Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn “.
Kết cấu tài khoản :
Bên Nợ : Hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn.
Bên Có : Trích lập dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn.
SD bên Có : Số dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn hiện có vào cuối kỳ.
Tài khoản 229 ” Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn “.
Kết cấu tài khoản :
Bên Nợ : Hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn.
Bên Có : Trích lập dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn.
SD bên Có : Số dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn hiện có vào cuối kỳ.
Tài khoản 635 ” Chi phí tài chính.”
Kết cấu tài khoản :
Bên Nợ : Các khoản chi phí hoạt động tài chính…
Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán…
Bên Có : Hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán
Cuối kỳ kế toán kết chuyển toàn bộ chi phí tài chính và các khoản lỗ phát sinh trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh.
Nội dung và phương pháp phản ánh :
Cuối niên độ kế toán, kế toán căn cứ vào các bằng chứng đáng tin cậy về sự giảm giá của các loại chứng khoán ngắn hạn, dài hạn mà Doanh nghiệp đang nắm giữ để tính mức dự phòng giảm giá cần lập cho từng loại chứng khoán. Sau đó tổng hợp vào bảng kê chi tiết dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư làm căn cứ hạch toán :
Nợ TK 635 ” Chi phí hoạt động tài chính ”
Có TK 129 – Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
Có TK 229 – Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn
Cuối niên độ sau : Trường hợp số dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư ngắn hạn, dài hạn phải lập nhỏ hơn số dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ngắn hạn, dài hạn đã lập ở cuối niên độ kế toán năm trước, thì số chênh lệch phải được hoàn nhập, ghi:
Nợ TK 129 – Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
Nợ TK 229 – Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn
Có TK 635 – Chi phí tài chính
Trường hợp số dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư ngắn hạn, dài hạn phải lập lớn hơn số dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ngắn hạn, dài hạn đã lập ở cuối niên độ kế toán năm trước, thì số chênh lệch cần phải được lập thêm:
Nợ TK 635 – Chi phí tài chính
Có TK 129 – Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
Có TK 229 – Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn
2.2. Dự phòng phải thu khó đòi:
2.2.1. Khái niệm:
Trong thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh có những khoản phải thu mà người nợ khó hoặc không có khả năng trả nợ, các khoản nợ của khách hàng này gọi là nợ phải thu khó đòi.
Để đề phòng những tổn thất về các khoản phải thu khó đòi có thể xảy ra, hạn chế về những đột biến về kinh doanh trong một kỳ kế toán, Doanh nghiệp phải dự kiến số nợ có khả năng khó đòi, tính trước vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ hạch toán. Số tính trước này gọi là dự phòng phải thu khó đòi.
2.2.2. Đối tượng cần lập dự phòng:
– Đối với con nợ là pháp nhân khi có quyết định của toà án cho xử lý phá sản hay quyết định của cấp có thẩm quyền về giải thể Doanh nghiệp hoặc các quyết định khác của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
– Đối với con nợ là thể nhân con nợ đang tồn tại nhưng có đủ cơ sơ để chứng minh không có khả năng trả nợ hoặc lệnh truy nã hay xác nhận của cơ quan pháp luật đối với những con nợ đã bỏ trốn hoặc đang thi hành án hoặc con nợ đã chết, không có khả năng trả tiền (kèm theo xác nhận của chính quyền địa phương).
Về nguyên tắc, căn cứ để lập dự phòng là phải có những bằng chứng đáng tin cậy về các khoản nợ phải thu khó đòi (khách hàng bị phá sản hoặc bị tổn thất, thiệt hại lớn về tài sản,… nên không hoặc khó có khả năng thanh toán, đơn vị đã làm thủ tục đòi nợ nhiều lần vẫn không có khả năng thu nợ).
Đối với Doanh nghiệp Nhà nước, theo chế độ tài chính hiện hành, việc trích lập dự phòng phải thu khó đòi không được vượt quá số lợi nhuận phát sinh của niên độ kế toán và có những bằng chứng sau :
Số tiền phải thu từng đối tượng, theo nội dung, từng khoản nợ trong đó ghi rõ số nợ phải thu khó đòi.
Phải có chứng từ gốc hoặc xác nhận của đối tượng về số tiền nợ còn nợ chưa trả bao gồm : Hợp đồng kinh tế, khế ước vay nợ, bản thanh lý hợp đồng, cam kết nợ, đối chiếu nợ…
Căn cứ để được ghi nhận là một khoản nợ khó đòi là :
Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán từ 2 năm trở lên kể từ ngày hết hạn thu nợ được ghi trong Hợp đồng kinh tế, khế ước vay nợ, bản cam kết hợp đồng hoặc cam kết nợ, Doanh nghiệp đã đòi nhiều lần nhưng vẫn chưa thu được.
Trường hợp đặc biệt tuy thời gian quá hạn chưa tới 2 năm nhưng con nợ đang trong thời gian xem xét giải thể, phá sản hoặc đang bị cơ quan pháp luật giam giữ, xét xử hoặc bị chết.
2.2.3. Xác định mức dự phòng phải thu khó đòi cần phải lập
Phương pháp ước tính trên doanh thu bán chịu (phương pháp kinh nghiệm):
Số dự phòng phải thu khó đòi = Tổng số doanh thu * Tỷ lệ phải thu khó đòi
cần lập cho năm tới bán chịu ước tính
Phương pháp ước tính đối với khách hàng đáng ngờ
(dựa vào thời gian quá hạn thực tế)
Số dự phòng phải thu khó = Số nợ phải thu của * Tỷ lệ ước tính không thu
đòi cần lập cho năm tới khách hàng đáng ngờ i được ở khách hàng đáng ngờ i
2.2.4. Kế toán dự phòng phải thu khó đòi
TK sử dụng : TK 139 “Dự phòng phải thu khó đòi”
Kết cấu tài khoản:
Bên Nợ : Hoàn nhập số dự phòng phải thu khó đòi không dùng đến
Bên Có : Trích lập dự phòng phải thu khó đòi
SD bên Có : Số dự phòng phải thu khó đòi hiện còn
Nội dung và phương pháp hạch toán dự phòng phải thu khó đòi:
(1) Cuối kỳ kế toán năm, Doanh nghiệp căn cứ vào các khoản nợ phải thu được xác định là không chắc chắn thu được (Nợ phải thu khó đòi), kế toán tính xác định số dự phòng phải thu khó đòi cần trích lập. Nếu số dự phòng phải thu khó đòi cần trích lập năm nay lớn hơn số dư của khoản dự phòng phải thu khó đòi đã trích lập ở cuối niên độ trước chưa sử dụng hết, thì số chênh lệch lớn hơn được hạch toán vào chi phí, ghi:
Nợ TK 642 _ Chi phí quản lý Doanh nghiệp
Có TK 139 _ Dự phòng phải thu khó đòi
(2) Nếu số dự phòng phải thu khó đòi cần trích lập năm nay nhỏ hơn số dư của khoản dự phòng phải thu khó đòi đã trích lập ở cuối niên độ trước chưa sử dụng hết, thì số chênh lệch được hoàn nhập ghi giảm chi phí, ghi:
Nợ TK 139 _ Dự phòng phải thu khó đòi
Có TK 642 _ Chi phí QLDN (Chi tiết hoàn nhập dự phòng phải thu khó đòi).
(3) Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được, khi có quyết định cho phép xoá nợ (theo chế độ tài chính hiện hành). Căn cứ vào quyết định xoá nợ phải thu khó đòi, ghi:
Nợ TK 139 _ Dự phòng phải thu khó đòi
Nợ TK 642 _ Chi phí QLDN (Phần chênh lệch giữa số nợ phải thu khó đòi
xoá sổ lớn hơn số lập dự phòng)
Có TK 131 _ Phải thu của khách hàng
Đồng thời ghi:
Nợ TK 004 “Nợ khó đòi đã xử lý ”
(4) Đối với những khoản nợ phải thu khó đòi đã được xử lý xoá nợ, nếu sau đó lại thu hồi được nợ, kế toán căn cứ vào giá trị thực tế của khoản nợ đã thu hồi được, ghi:
Nợ TK 111, 112
Có TK 711 _ Thu nhập khác
Đồng thời ghi:
Có TK 004 “Nợ khó đòi đã xử lý ”
2.3. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
2.3.1. Khái niệm:
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho là khoản dự tính trước để đưa vào chi phí sản xuất kinh doanh phần giá trị bị giảm xuống thấp hơn giá trị đã ghi sổ kế toán của hàng tồn kho.
Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện của hàng tồn kho.
2.3.2. Nguyên tắc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Cơ sở lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho là từng loại mặt hàng. Riêng đối với các dịch vụ cung cấp dỡ dang, việc lập dự phòng được tính theo từng loại dịch vụ có mức giá riêng biệt.
Giá trị hàng tồn kho không thu hồi đủ khi hàng tồn kho bị hư hỏng, lỗi thời, giá bán bị giảm, hoặc chi phí hoàn thiện, chi phí để bán hàng tăng lên. Việc ghi giảm giá gốc hàng tồn kho cho bằng với giá trị thuần có thể thực hiện được là phù hợp với nguyên tắc, tài sản không được phản ánh lớn hơn giá trị thực hiện ước tính từ việc bán hay sử dụng chúng.
Khi ước tính giá trị thuần có thể thực hiện được phải tính đến mục đích của việc dự trữ như: giá trị thuần có thể thực hiện được của lượng hàng tồn kho dự trữ để đảm bảo cho các hợp đồng bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ không thể huỷ bỏ phải dựa vào giá trị trong hợp đồng. Nếu số hàng đang tồn kho lớn hơn số hàng cần cho hợp đồng thì giá trị thuần có thể thực hiện được của số chênh lệch giữa hàng đang tồn kho lớn hơn số hàng cần cho hợp đồng được đánh giá trên cơ sở giá bán ước tính.
Nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ dự trữ để sử dụng cho mục đích sản xuất sản phẩm không được đánh giá thấp hơn giá gốc nếu sản phẩm do chúng góp phần cấu tạo nên sẽ không được bán bằng hoặc cao hơn giá thành sản xuất của sản phẩm. Khi có sự giảm giá của nguyên vật, vật liệu và công cụ, dụng cụ mà giá thành sản phẩm sản xuất cao hơn giá trị thuần có thể thực hiện được, thì nguyên liệu, vật liệu và công cụ, dụng cụ tồn kho được đánh giá giảm xuống bằng với giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng.
2.3.3. Kế toán các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập vào cuối niên độ kế toán nhằm ghi nhận bộ phận giá trị dự tính giảm sút so với giá gốc (giá thực tế) của hàng tồn kho nhưng chưa chắc chắn. Qua đó, phản ánh được giá trị thực hiện thuần của hàng tồn kho trên Báo cáo tài chính.
Giá trị thực hiện thuần = Giá gốc của hàng _ Dự phòng giảm giá
của hàng tồn kho tồn kho hàng tồn kho
Dự phòng giảm

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Một số suy nghĩ về trích lập các khoản dự phòng trong hệ thống kế toán Việt Nam

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *