[block id=”bo-sung-1″]

Nấm là nguồn thực phẩm bổ dưỡng và con người đã biết nó một để bổ sung dinh dưỡng cho bữa ăn hằng ngày như nấm rơm, nấm mỡ, nấm hương, nấm kim chi, nấm bào ngư bên cạnh đó là các nấm được dùng làm dược liệu như các loài nấm trong Lục Bảo Linh Chi. Đối với một số loài chúng có thể mang lại những lợi ích về kinh tế và sức khỏe cho con người, nhưng không ít loài đang là mối lo cho chúng ta hiện nay.
Trong tự nhiên, có hơn 100 loài nấm khác nhau, trong đó chỉ có 30-40 loài có thể ăn được, còn lại chủ yếu là nấm không ăn được. Chúng mọc xen lẫn nhau trong cùng môi trường, và rất khó để nhận biết nếu không có thông tin chính xác. Việc thu nhầm nấm độc trong mùa lấy nấm là chuyện thường gặp, và rất nguy hiểm, vì nó rất độc. Gây ra hậu quả rất lớn đối với đời sống của con người.

de_tai_nam_doc_va_nhung_hieu_biet_lien_quan_den_nam_doc

doc30 trang | Chia sẻ: lecuong1825 | Ngày: 18/07/2016 | Lượt xem: 2100 | Lượt tải: 12download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Nấm độc và những hiểu biết liên quan đến nấm độc, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1. Lý do lựa chọn đề tài 2
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Nội dung nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
Chương I: CÁC LOẠI NẤM ĐỘC VÀ ĐỘC TỐ NẤM ĐỘC 3
1. Đại cương về nấm độc 3
1.1. Cấu tạo hình thái của loài nấm độc 3
1.2. Các loại độc tố trong nấm độc 3
1.3. Những bệnh tật do nấm độc gây ra 4
2. Các nhóm độc tố 5
2.1. Độc tố hủy hoại chất nguyên sinh tế bào và các loài nấm gây ngộ độc 5
2.1.1. Độc tố Amatoxin 5
2.1.2. Độc tố Phallotoxin 8
2.1.3. Độc tố Gyromitrin, Monomethylhydrazine 9
2.1.4. Độc tố Orellanine 11
2.1.5. Ngộ độc hệ thần kinh 12
2.1.6. Ngộ độc do Psilocybin 16
2.1.7. Độc tố Coprine và Disulfiram-Like. 18
Chương II: NHẬN BIẾT NẤM ĐỘC VÀ ỨNG DỤNG 21
2.1. Phân biệt nấm độc và nấm ăn 21
2.2. Triệu chứng khi bị ngộ độc do ăn phải nấm độc 21
2.3. Các biện pháp sơ cấp cứu khi ngộ độc nấm 23
2.4. Phòng ngộ độc nấm 24
Chương III: CÁC LOẠI NẤM ĐỘC THƯỜNG GẶP Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC LÂN CẬN 26
3.1. Tình hình chung 26
3.2. Đại diện một số nấm độc thường gặp ở Việt Nam 27
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Nấm là nguồn thực phẩm bổ dưỡng và con người đã biết nó một để bổ sung dinh dưỡng cho bữa ăn hằng ngày như nấm rơm, nấm mỡ, nấm hương, nấm kim chi, nấm bào ngư bên cạnh đó là các nấm được dùng làm dược liệu như các loài nấm trong Lục Bảo Linh Chi. Đối với một số loài chúng có thể mang lại những lợi ích về kinh tế và sức khỏe cho con người, nhưng không ít loài đang là mối lo cho chúng ta hiện nay.
Trong tự nhiên, có hơn 100 loài nấm khác nhau, trong đó chỉ có 30-40 loài có thể ăn được, còn lại chủ yếu là nấm không ăn được. Chúng mọc xen lẫn nhau trong cùng môi trường, và rất khó để nhận biết nếu không có thông tin chính xác. Việc thu nhầm nấm độc trong mùa lấy nấm là chuyện thường gặp, và rất nguy hiểm, vì nó rất độc. Gây ra hậu quả rất lớn đối với đời sống của con người.
Ngộ độc do nấm rất nguy hiểm vì thời gian biểu hiện là khác nhau tùy theo loài, và thường dẫn đến tử vong nếu phát hiện quá muộn. Nhưng những điều này chúng ta có thể ngăn chặn được nếu có một cơ sở thông tin cần thiết để mọi người có thể tự nhận biết được các loài nấm độc để không thu hái chúng, không sử dụng chúng.
Trên cơ sở đó, tôi chọn đề tài “Nấm độc và những hiểu biết liên quan đến nấm độc”, nhằm cung cấp một cái nhìn tổng thể về các dạng nấm độc và độc tố của chúng, bên cạnh đó cũng một số thông tin, và cách phòng tránh khi ăn phải nấm độc.
2. Mục đích nghiên cứu
– tìm hiểu các nhóm nấm độc và độc tố của chúng.
3. Nội dung nghiên cứu
– Tìm hiểu các nhóm nấm độc và độc tố của chúng.
– Phân biệt giữa nấm độc và nấm lành
– Tìm hiểu các triệu chứng và biện pháp sơ cứu khi bị ngộ độc bở nấm
4. Phương pháp nghiên cứu
Thu thập, xử lý, phân tích, tổng hợp và so sánh các nguồn tìa liệu.
Chương I
CÁC LOẠI NẤM ĐỘC VÀ ĐỘC TỐ NẤM ĐỘC
1. Đại cương về nấm độc
1.1. Cấu tạo hình thái của loài nấm độc
Thông thường cây nấm có 3 bộ phận: Mũ, thân và chân nấm. Các loại nấm khác nhau thì hình thái, kết cấu 3 bộ phận đó cũng khác nhau. Màu sắc, mùi vị của nấm cũng rất đa dạng. Nấm độc thường có màu sắc sặc sỡ, mùi vị thối, đắng…
Thông thường các loại nấm độc bao giờ trông cũng nhiều màu sắc hơn, có đốm nổi lên, trên mũ nấm có những hạt nổi hay vằn màu đỏ hay màu tạp, có rãnh, vết nứt, có vòng quanh thân, khi ngắt sẽ có nhựa chảy ra.
Nấm độc khi hái thường có mùi cay, mùi hắc hoặc mùi đắng xộc lên. Nấm ăn được thường thơm hoặc không mùi.
Phiến nấm
Mũ nấm
Thân
Bao nấm
Hệ sợi nấm (rễ)
Hình 1: Hình thái chung của một loài nấm độc
1.2. Các loại độc tố trong nấm độc
1. Các Loại nấm trồng để ăn thường không độc hại, nhưng những loại nấm hoang dại thì có rất nhiều loài có chứa độc tố gây ngộ độc thậm chí tử vong cho người.
2. Độc tố chứa trong nấm độc gồm có: Amanitin, Gyromitrin, Orellanine, Muscarine, Ibotenic Acid, Muscimol, Psilocybin, Coprine
3. Các kiểu gây ngộ độc gồm có 5 loại:
– Độc tố nguyên sinh chất tế bào (Protoplasmic)
– Độc tố thần kinh (Neurotoxin)
– Độc tố kích thích đường tiêu hóa (Gastrointinstinal Irritant)
– Độc tố vô hiệu hóa cầu disulfure (Disulfiram-like)
– Độc tố hỗn hợp (Miscellaneous)
1.3. Những bệnh tật do nấm độc gây ra
Chất độc tác động lên nguyên sinh chất tế bào (protoplasmic poisons): Nhóm chất độc thuộc loại này phá hủy các tế bào, từ đó nó làm hư hại một số cơ quan, tổ chức trong cơ thể.
Nhóm độc tố tác động lên hệ thống thần kinh (neurotoxins): Nhóm chất độc này gây ra các triệu chứng thần kinh như: Sự ra mồ hôi quá độ, hôn mê, chứng co giật, ảo giác, chứng kích động, suy nhược, liệt cơ kết tràng…
Nhóm chất độc kích thích đường tiêu hóa dạ dày – ruột (Gastrointestinal irritants): Nhóm chất độc này tác động nhanh chóng gây buồn nôn, ói mữa, đau bụng, “dọp bẽ chuột rút” và kích thích gây tiêu chảy.
Nhóm chất độc tác động lên trao đổi chất, vô hiệu hóa cầu disulfur trong enzyme (disulfiram-like toxins): Do cấu trúc gần giống với cầu disulfure nên nó ức chế các hoạt chất sinh học có cấu trúc cầu sulfure, gây rối loạn trao đổi chất.
Chẩn đoán phân biệt ban đầu sự ngộ độc do ăn nấm độc.
Thời gian xuất hiện triệu chứng sau khi nhiểm độc
Kiểu gây ngộ độc
Mối nguy
Xảy ra muộn
(6 – 72 giờ)
Hại tế bào Protoplasmic
Rất nguy hiểm đến tính mạng
Xảy ra nhanh
(15 ph – 2 giờ)
Hại đường tiêu hóa G.I.irritant
Không nguy hiểm đến tính mạng*
Xảy ra nhanh
15 – 30 phút
Hại thần kinh Neurological
Không nguy hiểm đến tính mạng*
Xảy ra nhanh
5 – 30 phút
Disulfiram-like
Không nguy hiểm đến tính mạng*
* Xảy ra thường xuyên nhất, sẽ qua khỏi, nhưng cần phải có sự giúp đở chữa trị của Bác sĩ.
2. Các nhóm độc tố
2.1. Độc tố hủy hoại chất nguyên sinh tế bào và các loài nấm gây ngộ độc (Protoplasmic poisoning)
Hình 2: Amanita bisporigera
a
b
Hình 3: Amanita phalloides đỏ (a) và Amanita Phalloides xám (b)
Các loài nấm sản sinh độc tố có cấu trúc peptid mạch vòng Cyclopeptide (Amatoxin và phallotoxin):
Các loại nấm sinh độc tố chính thức ghi nhận:
+ Amanita: Amanita bisporigera, Amanita ocreata, Amanita phalloides, (the Death Cap), Amanita verna, Amanita virosa,
+ Galerina: Galerina autumnalis, Galerina marginata, Galerina venenata
Các loài nấm có khả năng gây độc chưa ghi nhận chính thức:
+ Amanita: Amanita suballiacea, Amanita tenuifolia.
+ Conocybe: Conocybe filaris.
Nấm độc Amanita phalloides có rất nhiều màu sắc, chúng rất độc, thường mọc trên thảm cỏ trong rừng, trong mùa lấy nấm. Nếu không phân biệt với nấm ăn sẽ rất nguy hiểm. Trong đó phải kể đến như là nấm độc Amanita phalloides đỏ là loài nấm độc nhất đến nấm Amanita Phalloides xám cùng nhiều loài khác.
2.1.1. Độc tố Amatoxin (Amanitin)
Hình 4: cấu trúc hóa học của Amanitine
– Cấu trúc phân tử của Amanitine (Amatoxin), là một peptide mạch vòng (cyclopeptide), có 8 amino acids liên kết thành mạch vòng. Hai loại độc tố tìm thấy trong nấm Amanita phalloides.
* Cơ chế gây độc của Amatoxin
– Nó là nguyên nhân tàn phá tế bào.
– Nó tấn công sự phân hóa tế bào với tốc độ cao.
– Trước tiên tấn công đường tiêu hóa, làm tổn thương dạ dày gây ra các triệu chứng ban đầu – ói mửa, tiêu chảy, đau đớn.
– Toxin được hấp thu vào máu và đi đến gan, ở đây amatoxin tàn phá làm hư hại gan.
Hình 5: Bốn dẫn xuất gây ngộ độc mạnh nhất trong các loại độc tố của nấm độc
* Cấu trúc và vị trí kết dính của Amatoxin
Hình 6: cấu trúc và vị trí kết dính của Amatoxin
* Amatoxin đi vào được trong gan
– Toxin chiếm lĩnh nhân của những tế bào gan.
– Làm hư hỏng nhân tế bào và ức chế mRNA polymerase.
– Độc tố theo vòng tuần hoàn đến thận và tấn công tế bào thận và cũng theo dòng máu đi trở lại gan để tiếp tục sự tàn phá tiếp.
– Amatoxin là độc tố gây chết người nguy hiểm nhất so với các loại độc tố nấm khác.
* Các giai đoạn ngộ độc và triệu chứng:
Amatoxin (amanitin) ức chế sự tổng hợp mRNA, điều này gây ra cho tế bào ngừng tổng hợp protein vì thiếu mRNA là khuôn mẫu cho sự tổng hợp protein (Ammirati, et al. 81).
Thời kỳ nung bệnh sau khi sau khi ăn phải Amatoxin
Những triệu chứng biểu hiện ra.
Giữa 5 đến 24 giờ (12 giờ đầu bình thường)
Sau 12 giờ xuất hiện triêu chứng
Rất mạnh mẽ và ói mữa liên tục kéo dài, Tiêu chảy liên tục, đau bụng kinh khủng, chuột rút, vọp bẻ chân và cẳng chân.
1 đến 3 ngày
Shock rất mạnh do cơ thể mất nhiều nước trong thời gian này.
4 đến 11 ngày
Gan và thận hư hỏng, xảy ra sự thay đổi rất khác thường.
12 ngày và sau đó
Biến chứng phức tạp gây ra triệu chứng thứ phát như: thương tổn tuyến tụy và tổ chức cơ tim. Rất khó có cơ hội sống sót.
* Tình hình nhiểm độc trên thế giới:
Trường hợp ngộ độc loại độc tố này được ghi nhận như sau:
Năm 1931: Ở Poznan, thuộc Balan có 31 đứa trẻ đã bị chết do ăn buổi trưa bị ngộ độc nấm Amanita phalloides.
Năm 1953-1962: cũng ở Poznan, thuộc Balan có 126 trường hợp nhiểm độc nấm Amanita phalloides với 40 trường hợp tử vong.
Năm 1970 có 3 người trưởng thành và 4 trẻ em bị nhiểm độc lấy trong rừng thông không phân biệt được giữa nấm ăn được và nấm độc nên bị nhiểm độc 2 loại nấm độc Amanita verna hoặc A. phalloides. Trong số này có 1 người trưởng thành và 1 trẻ em bị chết.
Năm 1988 (see Readers Digest, July 1989, pp. 43-48) do nhằm lẫn với nấm ăn ở địa phương, một người phụ nữ lựa nấm lẫn với nấm độc Amanita phalloides đã làm cho những đứa trẻ ở Korea bị nhiểm độc. 5 người đã ăn nấm độc này thì có 4 người chết.
2.1.2. Độc tố Phallotoxin (Phalloidin)
* Cấu tạo và cơ chế gây độc của Phallotoxins
Hình 7: Cấu tạo hóa học của phallotoxin
– Cyclopeptides (amino acids liên kết thành mạch vòng).
– Phallotoxins gồm có 7 amino acids trong mạch vòng.
– Tàn phá làm hư hỏng tế bào trong gan.
– Tấn công màng tế bào – gắn với protein receptor của tế bào.
– Tế bào bị thủng Ca++ đi vào trong tế bào thay vì K+.
– Độc tố vào tế bào chất và tấn công làm vở màng lysosome.
– Người ta nghĩ rằng độc tố phalloidin có thể không gây tử vong bời vì nó không hấp thu qua đường ruột trong thí nghiệm trên động vật.
2.1.3. Độc tố Gyromitrin, Monomethylhydrazine
* Cấu trúc hóa học của độc tố:
Cấu trúc hóa học của độc tố Monomethylhydrazine (CN2H6), Hydrazine (Gyromitrin) (N2H4)
Hình 8: cấu trúc hóa học của Monomethylhydrazine và Hydrazine (Gyromitrin)
* Các loại nấm sinh độc tố thuộc chi Helvella và Sarcosphaera:
Hình 9: Helvella elastica Hình 10: Helvella lacunose
Hình 11: Helvella Acetabulum Hình 12: Sarcosphaera crassa
* Các loại nấm sinh độc tố Gyromitrin thuộc chi Gyromitra:
Các loài nấm độc thuộc chi Gyromitra rất độc và có nhiều hình thái, màu sắc khác nhau
Hình 13: Gyromitra ambigua Hình 14: Gyromitra brunnea
Hình 15: Gyromitra californica Hình 16: Gyromitra caroliniana
Hình 17: Gyromitra esculenta Hình 18: Gyromitra fastigiata
Hình 19: Gyromitra gigas  Hình 20: Gyromitra infula
* Triệu chứng ngộ độc:
Sau khi ăn nấm độc 6 – 8 giờ thì xuất hiện các triệu chứng:
– Toàn thân sưng phù húp híp có thể cảm nhận được.
– Buồn nôn và ói mữa dữ dội.
– Đi tiêu chảy ra nước đôi khi có lẫn máu.
– Cơ bị chuột rút, vọp bẻ.
– Rất đau đớn ở vùng bụng.
– Những ca ngộ độc nặng có thể gây ra:
→ Hư hại nặng tổ chức gan.
→ Nhiểu loạn tế bào máu và hệ thống thần kinh.
→ Sốt cao
→ Xuất hiện chứng co giật.
→ Hôn mê.
→ Cuối cùng chết (thường chết sau 2 – 4 ngày sau khi ăn phải nấm độc).
Từ năm 1953-1962 ở Balan có 138 ca ngộ độc do nấm Gyromitra esculenta, trong đó có 100 người phải đưa vào bệnh viện, có 6 người chết.
2.1.4. Độc tố Orellanine
* Các loại nấm sản sinh ra chất độc:
Độc tố này do nấm độc Cortinarius orellanus sinh ra, cơ chế tác động của nó cũng giống như độc tố Amanitin.
Hình 21: Cortinarius orellanus
* Công thức cấu tạo của độc tố:
Hình 22: Công thức cấu tạo hóa học của độc tố orellanine
* Triệu chứng ngộ độc:
– Xuất hiện sau khi nhiểm độc 3 – 14 ngày.
– Trước tiên nạn nhân khát nước dữ dội (polydipsia), uống nhiều nước và do đó đi tiểu nhiều (polyuria), đó là dấu hiệu đầu tiên của sự ngộ độc.
– Sau đó buồn nôn, đau đầu, đau nhứt bắp cơ, ớn nóng lạnh, co thắt và mất ý thức.
– Trường hợp nặng, ống niệu trong thận bị hoại tử rất nặng.
– Thận hư nên máu không được lọc thải chất độc, cuối cùng là tử vong, tỷ lệ chết 15%.
– Gan cũng bị thoái hóa mỡ, rất dễ bị viêm. Đi kèm theo đó ruột cũng bị hư hại.
– Nếu cấp cứu qua khỏi thì thời gian bình phục cũng mất vài ba tháng.
2.1.5. Ngộ độc hệ thần kinh (Neurotoxins)
2.1.5.1. Ngộ độc Muscarine (Muscarine Poisoning)
* Cấu tạo hóa học của Muscarine
Hình 23: Cấu tạo hóa học của Muscarine
* Các loài nấm chứa độc tố muscarine thuộc các chi:
+ Clitocybe: Clitocybe dealbata, Clitocybe cerussata, Clitocybe rivulosa, Clitocybe truncicola
+ Inocybe: trong loại này có ít nhất 30 loài.
+ Amanita: Amanita muscaria và Amanita pantherina
Hình 24: Clitocybe dealbata Hình 25: Clitocybe cerussata
Hình 26: Clitocybe rivulosa Hình 27: Clitocybe truncicola
Hình 28: Clitocybe truncicola Hình 29: Inocybe sororia
Hình 30: Inocybe geophylla Hình 31: Inocybe haemacta
* Triệu chứng ngộ độc
Đổ mồ hôi rất nhiều và kéo dài.
Gây ra sự tiết nước bọt rất mạnh và nước mắt, triệu chứng y xảy ra rất nhanh, xuất hiện sau khi ăn nấm độc từ 15 – 30phút.
Một vài trường hợp mạch đập chậm, huyết áp tuột xuống thấp đến mức nguy hiểm.
Trong khi đó loài nấm Clitocybe với gốc độc cơ bản chỉ gây ra đổ nhiều mồ hôi thôi.
Muscarine tinh khiết gây cho tim động vật TN ngừng đập.
Ăn với một liều lượng lớn nấm độc có chứa muscarine thì có thể xảy ra triệu chứng đau bụng, buồn nôn, đi tiêu chảy, mờ mắt, hô hấp rất khó khăn.
Triệu chứng ngộ độc giảm bớt sau 2 giờ. Hiếm khi tử vong, nó chỉ xảy ra khi nào bị ngộ độc quá nặng, gây rối loạn, hư hỏng tim mạch và hô hấp.
* Các trường hợp ngộ độc muscarine được ghi nhận trê thế giới:
Chỉ có một loài Inocybe patouillardii thì đã có thông báo gây ra cái chết cho con người.
Trong 2 năm nghiên cứu độc tố nấm ở Switzerland, đã có ít nhất 19 trường hợp được thông báo là ngộ độc muscarine. Số người ngộ độc nấm có 2 trường hợp do Clitocybe rivulosa, 7 trường hợp do Clitocybe nebularis, 6 trường hợp do Inocybe patouillardii, trong số trường hợp ngộ độc trên có 2 người chết.
Ở Balan có 15 ca ngộ độc do Inocybe patouillardii được thông báo, không có người chết.
2.1.5.2. Ngộ độc Acid Ibotenic/Muscimol (Ibotenic Acid – Muscimol Poisoning)
* Cấu tạo hóa học:
Hình 32: Công thức cấu tạo hóa học của độc tố Ibotenic Acid và Muscimol
* Các loài nấm có chứa chất độc:
+ Amanita: Amanita cothurnata, Amanita gemmata, Amanita muscaria, Amanita pantherina, Amanita smithiana, Amanita rubescens, Amanita strobiliformis.
+ Tricholoma: Tricholoma muscarium (từ Nhật bản)
* Một vài loài Amanita và Tricholoma có độc tố Ibotenic Acid – Muscimol
Hình 33: Amanita rubescens và Amanita pantherina
Hình 34: Amanita cothurnata Hình 35: Amanita gemmata
Hình 36: Amanita muscaria Hình 37: Amanita smithiana
Hình 38: Tricholoma terreum
* Triệu chứng lâm sàng khi trúng độc
Triệu chứng ngộ độc thông thường xảy ra sau 1 – 2 giờ ăn phải nấm độc. Sau đây là trình tự của những triệu chứng thần kinh:
– Bắt đầu là sự đau bụng rất khó chịu có khi có cũng có khi không
– Sau đó mất thăng bằng loạn choạng giống như người say rượu.
– Tiếp theo là hiện tượng ảo giác, nhìn thấy hào quang.
– Kế đến là xuất hiện các hành vi, cử chỉ thất thường.
– Sau đó bắt đầu vào cơn mê sảng.
– Cuối cùng liệm đi trong giấc ngủ sâu li bì.
Những triệu chứng này chứng tỏ hệ thần kinh bị tổn thương rất nặng.
* Tình hình nhiểm độc trên thế giới:
Loại nấm này phổ biến nhất ở vùng Tây-Bắc Thái bình dương châu Mỹ, nấm có hình mũ lưỡi trai Amanita panterina.
Rất nhiều ca ngộ độc do nhóm nấm này gây ra, nhưng rất ít trường hợp tử vong. Duy nhất chỉ có một người đàn ông tử vong do ăn lằm 12 cây nấm Amanita muscaria. Người đàn ông này bị sụp đổ sức lực sau nữa giờ ăn trúng nấm độc, có triệu chứng co giật mạnh, mất ý thức cảm giác và chết sau 1 ngày. Sau khi chết mổ khám tử thi với bệnh tích suy tim rất nặng.
Một trường hợp khác xảy ra với một bé gái 2 tuổi nhiểm đôc nấm Amanita gemmata vì sự sơ ý của cha mẹ nó, đã gây ra triệu chứng kích thích rất mạnh làm cho bé trở nên cáu kỉnh, bơ phờ, rồi trãi qua một cơn co giật đau đớn dữ dội, cuối cùng nấm độc đã cướp đi sinh mạng đứa bé.
2.1.6. Ngộ độc do Psilocybin (Psilocybin – Psilocin poisoning, Hallucinogenic)
* Các loài nấm sinh độc tố:
1. Psilocybe: Psilocybe baeocystis, Psilocybe caerulescens, Psilocybe caerulipes, Psilocybe cyanescens, Psilocybe cubensis, Psilocybe pelliculosa, Psilocybe semilanceata, Psilocybe strictipes, Psilocybe stuntzii.
2. Panaeolus: Panaeolus castaneifolius, Panaeolus cyanescens, Panaeolus fimicola, Panaeolus foenisecii, Panaeolus sphinctrinus, Panaeolus subbalteatus.
3. Conocybe: Conocybe cyanopus, Conocybe smithii,
4. Gymnopilus: Gymnopilus aeruginosus, Gymnopilus validipes.
* Cấu tạo hóa học
Hình 39: Cấu trúc hóa học của Psilocin và Psilocybin
Hình 40: Psilocybe baeocystis Hình 41: Psilocybe caerulesce
Hình 42: Psilocybe cyanescens Hình 43: Psilocybe cubensis
* Triệu chứng ngộ độc:
Triệu chứng trúng độc Psilocybin cũng gần giống như người bị say rượu, kèm theo với tâm thần bị ảo giác. Ảnh hưởng độc hại của nó gây ra bởi chất psilocin và psilocybin.
Triệu chứng ngộ độc xảy ra rất nhanh chỉ sau khi ăn nấm độc 2 giờ, ít khi tử vong nhưng gây ảo giác đối với người lớn.
Trường hợp nặng hơn đối với trẻ em khi ăn với số lượng nhiều thì ngoài ảo giác ra còn có sốt, chứng co giật, hôn mê và cuối cùng có thể chết.
Trình tự của các triệu chứng trong quá trình ngộ độc như sau:
– Tác động lên tâm thần, gây ảo giác.
– Tiếp theo là ói mữa.
– Sau đó kiệt sức.
– Tê liệt nhất thời. Sau đó khỏi.
* Tình hình ngộ độc trên thế giới:
Nấm Psilocybe baeocystis đã gây ra cái chết cho trẻ em. Có 2 người lớn là cha mẹ và 4 đứa trẻ đã ăn loài nấm này bị nhiểm độc. Hai người cha mẹ biểu lộ triệu chứng ảo giác rất đặc trưng, trong khi đó những đứa trẻ lại phát triển thêm sốt giao động từ 39 – 41oC, với chứng co giật từng cơn.
Những đứa trẻ với thân nhiệt rất cao và chết hết một đứa. Charles McIlvaine đã thông báo rằng: Nhà nấm học của nước Anh thế kỷ thứ 19, M.C. Cooke cảnh báo là nấm “Psilocybe semilanceata đã gây định mệnh chí tử cho những đứa trẻ ăn phải nó”.
2.1.7. Độc tố Coprine (Coprine Poisoning) và Disulfiram-Like.
* Một số nấm có chứa độc tố
Độc tố này thường chứa trong các loài nấm chủ yếu thuộc các chi Coprinus.
Loài Coprinus atramentarius có chứa chất độc thuộc loại này.
Ngoài ra có một số coprinus nghi ngờ có độc tố như: Coprinus micaceus, Coprinus fuscescens, Coprinus insignis, Coprinus sp. (một số loài ở châu Phi), Clitocybe clavipes
Hình 44: Cấu trúc hóa học của Coprine và Disulfiram-Like.
Hình 45: Coprinus atramentarius  Hình 46: Coprinus atramentarius
Hình 47: Coprinus atramentarius Hình 48: Coprinus micaceus
Hình 49: Coprinus disseminatus Hình 50: Coprinus comatus
Hình 51: Coprinus fuscescens Hình 52: Coprinus insignis
* Cơ chế gây độc của Coprine
– Coprine cản trở sự phân giải, bẽ gãy alcohol
– Về mặt hóa học, chất này rất giống với Antabuse
– Triệu chứng xảy ra thường sau khi ăn 5-30 phút. Nếu như cùng lúc đó có uống rượu alcohol thì tình trạng ngộ độc nặng hơn và kéo dài hơn đến 72 giờ.
* Triệu chứng ngộ độc
Triệu chứng ngộ độc xảy ra rất nhanh thường trong 5 – 10giờ. Nếu người bị nhiểm độc trước đó có uống rượu bia thì triệu chứng xảy ra nặng hơn rất nhiều.
Các triệu chứng trúng độc gồm có:
– Nóng rang khắp người, mặt đổ đầy mồ hôi, trở nên mẫn cảm.
– Đỏ rực trên mặt rồi lan xuống cổ và ngực.
– Thở nhanh, hô hấp trở nên khó khăn.
– Nhịp tim nhanh.
– Đau đầu dữ dội.
– Buồn nôn và ói mữa.
– Nhiều trường hợp được lưu ý và chăm sóc của Bác sĩ thì khỏi, những phản ứng nguy hiểm cũng qua luôn, không tử vong.
Chương II
NHẬN BIẾT NẤM ĐỘC VÀ ỨNG DỤNG
2.1. Phân biệt nấm độc và nấm ăn
Ngoài tự nhiên có khoảng trên 100 loại nấm dại, song loại có thể ăn được chỉ có khoảng từ 30 – 40 loại. Có những loại nấm độc rất giống nấm thường, mọc lẫn với nấm ăn được

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Nấm độc và những hiểu biết liên quan đến nấm độc

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *