[block id=”bo-sung-1″]


Con Cuông là huyện miền núi cao nằm ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An có biên giới
giáp nước cộng hoà nhân dân Lào, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số trong đó có dân tộc
Đan Lai một trong những dân tộc ít người có trình độ văn hoá thấp nhất của cả nước. Hàng
năm Con Cuông gieo trồng khoảng 3.214,6 ha lúa, năng suất lúa đạt bình quân thấp khoảng
43 tạ/ha, cơ cấu giống lúa tại địa phương huyện Con Cuông chủ yếu là Lúa lai (Nhị Ưu 838
và Khải phong số 1) và giống lúa thuần Khang dân, vụ Xuân chủ yếu là lúa lai và vụ Mùa thì
chủ yếu là giống lúa thuần ngắn ngày như Khang dân, IR352, nguồn giống ở đây một phần
sử dụng lúa lai và một số giống địa phương khác. Nhu cầu về giống lúa tại huyện Con Cuông
là rất cấp thiết đặc biệt là các giống lúa thuần nhằm khắc phục các nhược điểm của giống lúa
Khang dân cũng như để chủ động giống trong sản xuất Để đáp ứng được yêu cầu thực tế sản
xuất của địa phương ViÖn KHKTNN B¾c Trung Bé tiến hµnh đề tài “Nghiên cứu phát triển
các giống lúa năng suất cao đảm bảo an ninh lương thực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu
số huyện miền núi Con Cuông tỉnh Nghệ An” để thực hiên đề tài viện đã phối hợp với Trạm
Khuyến nông Trạm bảo vệ thực vật Huyện Con Cuông tiến hành triển khai các nội dung của
đề tài


pdf63 trang | Chia sẻ: thientruc20 | Ngày: 09/08/2021 | Lượt xem: 18 | Lượt tải: 0download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Nghiên cứu phát triển các giống lúa năng suất cao đảm bảo an ninh lương thực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện miền núi Con cuông tỉnh Nghệ An, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

1
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN KHOA HỌC KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP BẮC TRUNG BỘ
——————————-
BÁO CÁO TỔNG KẾT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI THUỘC DỰ ÁN KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP VỐN VAY ADB, GIAI ĐOẠN 2009-2011
Tên đề tài: “NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CÁC GIỐNG LÚA NĂNG SUẤT CAO ĐẢM
BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC CHO VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
HUYỆN MIỀN NÚI CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN”
Cơ quan chủ quản dự án: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện KHKT Nông nghiệp Bắc Trung Bộ
Chủ nhiệm đề tài: Thạc sỹ Lê Văn Vĩnh
Thời gian thực hiện đề tài: Tháng 1/2009 – tháng 12/2011
HỒ SƠ GỒM:
1. Báo cáo tổng kết
2. Các nhận xét của địa phương.
3. Quy trình kỹ thuật
4. Biên bản nghiệm thu .
5. Hợp đồng
6. Báo cáo tóm tắt
Tháng 12 năm 2011
2
MỤC LỤC
TT NỘI DUNG Trang
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 2
II. MỤC TIÊU 2
2.1 Mục tiêu tổng quất 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
III. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI
NƯỚC
3
IV. NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1. Nội dung nghiên cứu 5
2. Vật liệu nghiên cứu 5
3. Phương pháp nghiên cứu 6
V. KÉT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 6
5.1 Tóm tắt kết quả điều tra hiện trạng sản xuất lúa tại Con Cuông 6
5.2. Kết quả nghiên cứu khoa học 8
5.2.1 Kết quả nghiên cứu đánh giá tuyển chọn các giống lúa triển vọng
thích hợp cho vùng Con Cuông
8
5.2.2 Nghiên cứu kỹ thuật thâm canh các giống lúa triển vọng 19
5.2.3 Kết quả xây dựng mô hình 45
5.3 Tổng hợp các sản phẩm đề tài 48
5.3.1 Các sản phẩm đề tài 48
5.3.2 Kết quả đào tạo tập huấn 49
5.4 Đánh giá tác động của đề tài 49
5.4.1 Tác động của đề tài 49
5.4.2 Tổ chức thực hiện và tình hình sử dụng kinh phí 51
VI. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
1 Kết luận 53
2 Đề nghị 53
MỘT SỐ HÌNH ẢNH 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC 57
3
Bảng ký hiệu chữ viết tắt
Bộ nông Nghiệp và phát triển nông thôn Viết tắt Bô NN&PTNT
Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Bắc Trung Bộ Viện KHKTNN BTBộ
Giống lúa Vật tư nông nghiệp Nghệ An 1 VTNA1
Khang dân Đột biến K Dân ĐB
Phương pháp điều tra chẩn đoán nhanh nông thôn RRA
Phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân PRA
Phương pháp thu thập thông tin qua cán bộ chủ chốt KIP
Tổ hợp lai LT2/Q5 LT2/Q5
Tổ hợp lai ĐB5/LT2 dòng6 ĐB5/LT2-D6
Tổ hợp lai Xi23/121 Xi23/121
Tiêu chuẩn Việt nam TCVN
Trạm Bảo vệ thực vật BVTV
Thời gian sinh trưởng TGST
Năng suất lý thuyết NSLT
Năng suất thực thu NSTT
Công thức CT
Mật độ 1 M1
Nền phân 1 F1
Chỉ số bệnh CSB
Tỷ lệ bệnh TLB
Uỷ ban nhân dân UBND
Dân tộc thiểu số DTTS
Cán bộ khuyến nông CNKN
Thời gian sinh trưởng TGST
4
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
TT Họ và tên Đơn vị Công tác
1 Thạc sỹ Lê Văn Vĩnh Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ
2 Thạc sỹ Võ Văn Trung Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ
3 Thạc sỹ Nguyễn Đức Anh Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ
4 Thạc sỹ Nguyễn Duy Trình Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ
5 Kỹ sư Phạm Thế Cường Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ
6 Kỹ sư Nguyễn thị Hiền Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ
7 Kỹ sư Trần Thị Thắm Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ
8 Kỹ sư Nguyễn Quang Đạo Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ
9 Kỹ sư Nguyễn Xuân Hoàng Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ
10 Kỹ sư Nguyễn thị Tuyết Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ
11 Kỹ sư Trần Thị Quỳnh Nga Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ
12 Kỹ sư Trần Thị Loan Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ
13 Kỹ sư Lang Văn Bán Trạn khuyến Nông Con Cuông
14 Kỹ sư La Thị Thắng Phòng N N và PTNT Con Cuông
15 Kỹ sư Phạm Thị Điệp Trạm Bảo vệ Thực Vật Con Cuông
16 KTV Lô Thị Hồng Thanh Cán Bộ KN xã Lục Dạ
17 KTV Vi Viềng Anh Cán bộ KN xã Môn Sơn
18 Kỹ sư Lang Văn Vỹ Trạm KN Con Cuông
5
BÁO CÁO TỔNG KẾT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI THUỘC DỰ ÁN KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP VỐN VAY ADB, GIAI ĐOẠN 2009-2011
Tên đề tài: “Nghiên cứu phát triển các giống lúa năng suất cao đảm bảo an ninh lương
thực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện miền núi Con Cuông tỉnh Nghệ An”
I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Con Cuông là huyện miền núi cao nằm ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An có biên giới
giáp nước cộng hoà nhân dân Lào, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số trong đó có dân tộc
Đan Lai một trong những dân tộc ít người có trình độ văn hoá thấp nhất của cả nước. Hàng
năm Con Cuông gieo trồng khoảng 3.214,6 ha lúa, năng suất lúa đạt bình quân thấp khoảng
43 tạ/ha, cơ cấu giống lúa tại địa phương huyện Con Cuông chủ yếu là Lúa lai (Nhị Ưu 838
và Khải phong số 1) và giống lúa thuần Khang dân, vụ Xuân chủ yếu là lúa lai và vụ Mùa thì
chủ yếu là giống lúa thuần ngắn ngày như Khang dân, IR352, nguồn giống ở đây một phần
sử dụng lúa lai và một số giống địa phương khác. Nhu cầu về giống lúa tại huyện Con Cuông
là rất cấp thiết đặc biệt là các giống lúa thuần nhằm khắc phục các nhược điểm của giống lúa
Khang dân cũng như để chủ động giống trong sản xuất Để đáp ứng được yêu cầu thực tế sản
xuất của địa phương ViÖn KHKTNN B¾c Trung Bé tiến hµnh đề tài “Nghiên cứu phát triển
các giống lúa năng suất cao đảm bảo an ninh lương thực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu
số huyện miền núi Con Cuông tỉnh Nghệ An” để thực hiên đề tài viện đã phối hợp với Trạm
Khuyến nông Trạm bảo vệ thực vật Huyện Con Cuông tiến hành triển khai các nội dung của
đề tài
II. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
2.1. Mục tiêu tổng quát
Phát triển sản xuất lúa nước đáp ứng nhu cầu lúa gạo tại địa phương miền núi, vùng sâu
vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, an ninh xã hội vùng
biên giới phía Tây Nghệ An, hạn chế việc sản xuất lúa nương tránh được hiện tượng đốt rẫy
gieo lúa nương làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
– Tuyển chọn được 1 – 2 giống lúa năng suất đạt 60 – 65 tạ/ha, phù hợp với vùng sinh thái
huyện Con Cuông, Nghệ An.
– Xây dựng được 1 quy trình kỹ thuật thâm canh lúa nước, năng suất tăng 10 – 15% so với qui
trình canh tác cũ.
– Xây dựng được 2 mô hình thử nghiệm giống lúa mới, đạt năng suất 60 – 65 tạ/ha.
6
– Tổ chức 2 lớp tập huấn hướng dẫn kỹ thuật cho các hộ nông dân tham gia xây dựng mô
hình, qui mô 40 – 50 người/lớp.
III. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
Ngoài nước
Châu Á là trung tâm sản xuất lúa gạo lớn nhất thế giới. Theo thống kê của cơ quan
Thực phẩm Liên hiệp quốc trên thế giới có khoảng 147,5 triệu ha đất dùng cho lúa chiếm
90% diện tích gieo trồng lúa của Thế giới, trong đó ấn Độ có diện tích trồng lúa nhiều nhất,
chiếm 28,3%, (Trung Quốc khoảng 22,3% thứ đến là Băng la đét, In đô nê xi a, Thái lan; Việt
Nam đứng thứ 6 về diện tích trồng lúa trên thế giới). Các nước châu Á sản xuất khoảng
92%sản lượng lúa gạo trên thế giới. Như vậy, vùng trồng lúa chủ yếu ở các nước Châu Á
cũng là nguồn lương thực chính để nuôi sống vùng dân đông đúc này,trong đó Việt Nam và
Thái Lan là những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Ngoài việc tập trung nghiên cứu và phát triển lúa cho các vùng thâm canh lúa thuận lợi
nâng cao năng suất lúa ở những vùng thâm canh, việc chọn các giống chống chịu như chịu
hạn, chịu úng, chịu chua phèn cho các vùng đất khó khăn cũng được nhiều nhà khoa học trên
thế giới quan tâm nghiên cứu. Năm 2004 các nhà nghiên cứu thuộc IRRI đã xác định được
rằng giống lúa mới không chỉ cho sản lượng thu hoạch cao trong điều kiện thuận lợi, mà năng
suất có thể đạt 2-3 tấn trong các điều kiện hạn hán, trong khi các giống lúa phổ biến chỉ có thể
đạt năng suất chưa đến 1 tấn trên 1 ha. Dùng phương pháp nhân giống chéo các nhà nghiên
cứu đã cho ra đời thế hệ đầu tiên mang tên “Lúa nhịp điệu’ có thể tăng trưởng trên đất khô
hạn, giống như cây ngô để thay thế cho giống lúa nước.
Những năm gần đây, bên cạnh việc Trung Quốc phát triển mạnh Công nghệ lúa lai,
việc chọn lọc nhiều giống lúa thuần năng suất cao và chất lượng tốt cũng đang được chú
trọng. Từ năm 1991 đến nay các Viện nghiên cứu lúa, Trường Đại học Nông nghiệp của Tứ
Xuyên, Quảng Châu đã đưa ra hàng trăm giống lúa tốt trong đó đã có hàng chục giống lúa đã
được nhập vào Việt Nam và phát huy được ưu thế trên nhiều vùng đất ở Việt Nam cho năng
suất và chất lượng cao hơn so với những giống trước đây.
Trong nước:
– Việt nam sau gần 30 năm đổi mới đất nước có bước phát triển nổi bật trong đó sản xuất
nông nghiệp có đóng góp vô cùng to lớn từ nước còn nhập khẩu gạo trong những năm 1980
đến nay Việt nam đã là nước xuất khẩu gạo lớn của thế giới. Hàng năm nước ta xuất khẩu
trên 4,5 triệu tấn gạo là nước đứng thứ 3 trên thế giới về xuất khẩu gạo. Có được kết quả đó
có phần đóng góp to lớn của công tác nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp trong đó có vai
trò quan trọng của công tác chọn giống.
– Từ kết quả của công tác chọn giống và các biện pháp canh tác thích hợp đã đưa năng suất
7
lúa từ 5 tấn/ha lên 7-8 tấn/ha và 9-10 tấn /ha. Nhờ công tác chọn giống chúng ta đã chọn ra
được nhiều giống năng suất cao như X21, giống X23, giống IR17494, giống DT10…, đặc biệt
các giống lúa ngắn ngày năng suất cao được chọn tạo ra ngày càng nhiều và được đưa vào áp
dụng trong sản xuất làm tăng từ 2 vụ lên 3 vụ trong một năm nâng cao thu nhập trên diện tích
canh tác.
Trong những năm 1990 trở lại đây, các giống lúa ngắn ngày năng suất cao đã được nghiên
cứu và đưa vào sản xuất ngày càng nhiều như giống CR203, giống IR64, giống X1. Hiện nay
các giống Khang dân 18, giống Q5, HT1, ĐB5, AC5, ĐB6…, các giống ngắn ngày chất lượng
cao (LT2, BT7, N46) và các loại giống lúa thơm khác. Gần 20 năm qua ngoài các giống lúa
lai tạo trong nước và nhập nội từ IRRI và các giống lai tạo từ giống gốc của IRRI, Bộ nông
nghiệp và PTNT đã cho phép nhập nội và trồng thử các giống lúa thuần có nguồn gốc từ
Trung Quốc là những giống có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao. Chính vì vậy, bộ
giống lúa ở miền Bắc rất phong phú có thể gieo trồng 2 – 3 vụ trong năm. Bên cạnh các giống
lúa thuần thì các giống lúa lai 2,3 dòng cũng được nhập nội và sản xuất ở nhiều tỉnh cho năng
suất cao và sức chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh.
– Sinh thái Bắc Trung bộ, chạy dài từ Thanh Hoá đến Thừa thiên Huế, có đặc điểm khí hậu,
đất đai phức tạp và đa dạng. Đặc điểm nổi bật của thời tiết khí hậu ở đây là bị ảnh hưởng của
bão lũ hạn hán, khô nóng của gió lào và đôi khi còn có mưa đá. Đây chính là những điều kiện
bất thuận trong sản xuất nông nghiệp. Do tính đa dạng và phức tạp của đất đai và khí hậu nên
Bắc Trung bộ đã hình thành các dạng hình tiểu vùng sinh thái khác nhau.
– Hiện nay Bắc Trung bộ nói chung và Nghệ An nói riêng nhu cầu về giống lúa có thời gian sinh
trưởng ngắn và năng suất cao kháng được sâu bệnh nhằm né tránh được thiên tai là rất lớn.
Vùng miền núi Bắc Trung bộ có những điều kiện khí hậu rất khắc nghiệt, bão lũ, hạn hán,
thường xuyên xảy ra. Chính vì vậy mà điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở vùng này còn gặp
nhiều khó khăn (do điều kiện kinh tế xã hội vùng này phát triển còn thấp như trình độ dân trí
còn thấp, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, giao thông không thuận lợi). Những yếu tố này làm hạn
chế việc triển khai ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nói chung và sản xuất nông
nghiệp nói riêng.
Bắc Trung bộ có diện tích trồng lúa hàng năm xấp xỉ 700 ngàn ha. Những năm gần đây,
Bắc Trung bộ đã trở thành một trong những vùng thâm canh lúa khá tốt. Sau mười năm 1997
– 2006 năng suất tăng từ 36,1 tạ/ha năm 1997 lên 51 tạ/ha. Sản lượng tăng từ 2.495,5 ngàn tấn
năm 1997 lên 3.484,6 ngàn tấn năm 2006. Trong đó vụ Đông Xuân diện tích khoảng 330 –
335 ngàn ha, năng suất đạt khoảng 58,5 tạ/ha ; vụ Hè Thu diện tích khoảng 160 ngàn ha, năng
suất đạt bình quân 45 tạ/ha; diện tích lúa Mùa khoảng xấp xỉ 190 ngàn ha, năng suất đạt 42,8
tạ/ha (theo số liệu niên giám thống kê năm 2006). Tuy vậy vùng núi Bắc Trung bộ nhìn
8
chung năng suất đang còn rất thấp, đặc biệt trong vụ Mùa. Mặc dù trong 10 năm 1997 – 2006
năng suất lúa Mùa vùng này tăng từ 25,8 tạ/ha lên 42,8 tạ/ha, song cũng là vùng có năng suất
thấp, có tỉnh đạt năng suất lúa Mùa rất thấp như Quảng Trị chỉ đạt 16,6 tạ/ha năm 2006, các
tỉnh Nghệ An đạt 28,8 tạ/ha, Hà Tĩnh đạt 23,4 tạ/ha, Quảng Bình đạt 25,6 tạ/ha.
Nghệ An là một trong những tỉnh có diện tích và sản lượng lúa cao trong khu vực chỉ
đứng sau Thanh Hoá. Trong những năm gần đây sản lượng lương thực của Nghệ An liên tục
tăng đáng kể, (năm 2004 sản lượng đạt1 triệu tấn lương thực). Năm 2008 sản lượng lương
thực tỉnh Nghệ An dự tính đạt 1,15 triệu tấn trong đó sản lượng lúa ước đạt trên 8 trăm ngàn
tấn. N ăm 2011 sản lượng lương thực Nghệ an đạt xấp xỉ 1,2 triệu tấn
Để đạt được kết quả trên, những năm gần đây Nghệ An đã triển khai áp dụng nhiều tiến
bộ kỹ thuật trong đó có tiến bộ về giống, đặc biệt là diện tích lúa lai (vụ xuân diện tích lúa lai
chiếm khoảng từ 70 – 75%, vụ Mùa khoảng 20 – 25%) đã góp phần tăng năng suất bình quân
của tỉnh Nghệ An tăng sản lượng lúa lên một cách đáng kể (từ 38,5 tạ/ha năm 1997 lên 55
tạ/ha năm 2006). Tuy nhiên việc tăng năng suất và sản lượng chủ yếu tập trung ở các huyện
trọng điểm sản xuất lúa ở đồng bằng. Tại các huyện miền núi do điều kiện khó khăn của điều
kiện đất đai, khí hậu và cơ sở hạ tầng, điều kiện cơ sở vật chất cũng như trình độ dân trí của
vùng còn hạn chế nên các tiến bộ kỹ thuật nói chung, tiến bộ kỹ thuật về nông nghiệp nói
riêng áp dụng còn rất hạn chế, đặt biệt là vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Cơ cấu giống ở
vùng này chủ yếu đang chủ yếu là các giống lúa địa phương và một phần lúa Khang dân 18,
gần đây đã áp dụng một số tiến bộ mới về các giống lúa lai nhưng đang còn rất hạn chế. Năng
suất lúa vụ Mùa tại Nghệ An mới chỉ đạt bình quân 28,8 tạ/ha, năng suất lúa vùng núi Nghệ
An mới chỉ đạt bình quân dưới 40 tạ/ha. Vì vậy việc tập trung nghiên cứu phát triển lúa nước
vùng này là yêu cầu rất cần thiết.
IV. NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Điều tra hiện trạng sản xuất lúa tại huyện Con Cuông
Nội dung 2::Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa có triển vọng thích hợp cho huyện Con Cuông.
Thí nghiệm so sánh tuyển chọn các giống lúa đã được thu thập (tại 2 điểm trong 3 vụ từ vụ
xuânnăm 2009 đến vụ xuân 2010.
Quy mô mỗi thí nghiệm 2000m2
Nội dung 3: Nghiên cứu kỹ thuật thâm canh các giống lúa có triển vọng
1.Thí nghiệm Liều lượng phân NPK (tại 2 điểm trong 3 vụ từ vụ hè năm 2009 đến vụ hè năm 2010).
2.Thí nghiệm nghiên cứu mật độ thích hợp để đạt năng suất cao (tại 2 điểm trên 2 giống trong 2 vụ).
3. Thí nghiệm theo dõi đánh giá sau bệnh trên các giống triển vọng.
4.2. Vật liệu nghiên cứu
9
gồm các giống lúa như sau ĐB5/LT2-D6,2718/107-D1,D9, Khang DânĐB,số 70, AC5,
BM215,HT!,LT1/Q5, Khang dân , TBR1, LT2/Q5,Xi23/121, VTNA1,
4.3.Phương pháp nghiên cứu
Nội dung 1: Điều tra đánh giá hiện trạng sản xuất lúa tại huyện Con Cuông.
Tổ chức điều tra trên 6 xã mỗi xã điều tra trên 4 bản mỗi bản điều tra 10 hộ tổng số
phiếu điều tra 240 phiếu. Từ kết quả điều tra đánh giá hiện trạng sản xuất lúa và đề ra phương
hướng phát triển sản xuất lúa .
Sử dụng các phương pháp sau để thu thập số liệu
– Phương pháp điều tra chẩn đoán nhanh nông thôn (RRA)
– Phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân (PRA)
– Phương pháp thu thập thông tin qua cán bộ chủ chốt (KIP)
Nội dnug 2: Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa có triển vọng thích hợp cho vùng.
Thí nghiệm được bố trí chính quy theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh theo
qui phạm khảo nghiệm giống quốc gia 10 TCVN 558– 2002.
Thí nghiệm khảo nghiệm các giống lúa được các cán bộ thuộc Viện trực tiếp tổ chức
thi công theo dõi đánh giá cán bộ khuyến nông của Huyện trực tếp chỉ đạo và quanr lý các thí
nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo qui phạm khảo nghiệm giống quốc gia và đánh giá theo
tiêu chuẩn khảo nghiệm quốc gia 10 TCVC558 -2002.
Các chỉ tiêu theo dõi đánh giá theo hệ thống tiêu chuẩn của IRRI 1996 và xử lý theo
chương trình phần mền IRRISTAST và Excell.
Nội dung 3: Nghiên cứu các kỹ thuật thâm canh các giống lúa có triển vọng
Thí nghiệm ảnh hưởng của các loại phân bón N,P,K và ảnh hưởng của mật độ và ảnh
hưởng của một số loại sâu bệnh được bố trí giao cho các cán bộ của Viện và cán bộ Trạm bảo
vệ thực vật huyện Con Cuông trực tiếp thi công theo dõi và đánh giá.
Các thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh 3 lần nhắc lại.
Các số liệu được theo dõi đánh giá theo hệ thống tiêu chuẩn của IRRI và được xử lý
theo chương trình phần mền IRISTAST và Excell.
V. KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
5.1.Tóm tắt kết quả điều tra tình hình sản xuất lúa tại huyện Con Cuông.
Huyện Con Cuông chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu Bắc Trung bộ và miền núi Tây
Nam Nghệ An, có đặc điểm chung là khí hậu nhiệt đới gió mùa. Khí hậu chia thành 2 mùa rõ
rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa
trung bình hàng năm 1.517mm, nhiệt độ trung bình 23,30C, độ ẩm 86%. Số giờ nắng bình
10
quân 1.576 giờ/năm. Nhìn chung điều kiện thời tiết thích hợp cho nhiều loại cây trồng sinh
trưởng, phát triển, sản phẩm nông nghiệp đa dạng phong phú quanh năm. Song cũng có
những khó khăn cần khắc phục: Lượng mưa lớn, tập trung chủ yếu và tháng 8, 9, 10, gây
ngập úng cục bộ những nơi gần triền sông, suối, làm xói mòn rửa trôi đất… Ngoài ra Con
Cuông chịu ảnh hưởng gió phơn Tây Nam, gây khô nóng từ tháng 4 đến tháng 8 và gió mùa
Đông Bắc kèm theo mưa phùn, giá rét từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, có ảnh hưởng nhiều
đến sản xuất nông nghiệp.
Qua điều tra thu thập thông tin và phân tích số liệu chúng tôi thấy rằng tại huyện Con
Cuông đa số các hộ dân ở đây có số nhân khẩu trong gia đình từ 4 – 6 khẩu/ hộ, trong đó số lao
động chính chiếm khoảng một nửa. Người dân chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa với diện tích
mỗi hộ trung bình đạt khoảng 5 -6 sào/hộ gia đình(1 sào =500m2), có hộ diện tích trồng lúa đạt
tới 8 – 10 sào/hộ. Nói chung người dân nơi đây chủ yếu là làm nông nghiệp và cây lúa là cây
trồng chủ đạo
Cơ cấu giống lúa trên địa bàn huyện Con Cuông có 75% diện tích lúa gieo trồng lúa
lai ( giống lúa lai chủ yếu là Nhị ưu 838 và nhị ưu 725), và 25 % diện tích là lúa thường (chủ
yếu là cấy Khang Dân, nếp IR352 và một số giống khác). Giống lúa thuần năng suất đạt từ
2,0- 2,5 tạ/ sào. Mức độ sâu bệnh hại trung bình nhưng phẩm chất gạo bình thường, cơm
cứng. Còn với các giống lúa lai có thời gian sinh trưởng ngắn ngày hơn và cho năng suất là
khoảng 2,5- 3 tạ/sào. Chất lượng gạo trung bình
Sâu bệnh trong những năm gần đây loại sâu gây hại chủ yếu là cuốn lá nhỏ và rầy nâu.
Sâu cuốn lá thường gây hại vào thời điểm giai đoạn đẻ nhánh – làm đòng. Đối với rầy nâu
thường gây hại vào giai đoạn từ trỗ đến thu hoạch. Mức độ gây hại đối với cuốn lá là ở mức
trung bình, đối với rầy nâu chúng gây hại ở mức khá. Loại bệnh hại thường gặp ở đây là Khô
vằn, chúng gây hại vào thời điểm sau trỗ, mức độ gây hại ở mức trung bình, biện pháp phòng
trừ là phun thuốc theo sự chỉ dẫn của cán bộ khuyến nông.
Hàng vụ mỗi nông hộ bán ra thị trường khoảng 300 -500 kg thóc, chiếm tỷ lệ khoảng 70 – 80
%. Trong đó bán cho tư thương đến nhà mua khoảng 70 – 80%, số còn lại bán cho các dịch vụ khác.
Thóc thường được bán vào thời điểm cuối vụ, giá bán tại thời điểm này là khoảng 3.500- 3.800đ/kg
đối với lúa lai và 3800đ/kg – 4000đ/kg đối với lúa thuần nếp IR352 khoảng 5200đ/kg – 5500đ/kg
Hiệu quả của sản xuất lúa Đối với cấy giống lúa thường: NSTB đạt khoảng 250kg/sào; giá
bán bình quân là 4.000đ thu nhập đạt khoảng 1000.000 đồng/ sào; tổng chi phí đầu tư khoảng
11
820,000 đồng/sào. lãi thuần đạt khoảng 180 ngàn đồng. Đối với giống lúa lai: NSTB đạt
khoảng 300kg/sào; giá bán bình quân là 3.800đ như vậy thu nhập đạt khoảng trên
1140.000cđồng/ sào; tổng chi phí đầu tư khoảng 920 ngàn đồng. Như vậy lãi thuần đạt
khoảng 220 ngàn đồng/1 sào.
Đầu tư cho sản xuất nông nghiệp mức trung bình(mức đầu tư Bón 6-8 tấn phân chuồng + 200 kg
urê/ha + 300-400 kg su pe lân + 40 – 60kg ka c

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Nghiên cứu phát triển các giống lúa năng suất cao đảm bảo an ninh lương thực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện miền núi Con cuông tỉnh Nghệ An

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *