[block id=”bo-sung-1″]

Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Từ khi giành được độc lập năm 1975 và đặc biệt là từ sau năm 1986 – khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt mục tiêu phát triển kinh tế lên hàng đầu với định hướng đến năm 2020 Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Để đạt được mục tiêu trên thì tiết kiệm và đầu tư là một yếu tố cực kỳ quan trọng vì chúng không những làm gia tăng tài sản của cá nhân, mà còn trực tiếp làm gia tăng tài sản vật chất cho nền kinh tế, có tác động rất mạnh mẽ đến phát triển kinh tế.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, đặc biệt năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao nhất trong lịch sử: 8,5%. Những năm 2008, 2009 mặc dù chịu ảnh hưởng chung của suy thoái kinh tế; song tăng trưởng kinh tế vẫn ổn định ở mức ở mức 6,15% và 5,32%. Một vấn đề cấp thiết được đặt ra là làm thế nào để duy trì tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế ấy trong một thời gian dài.
Từ thực trạng kinh tế Việt Nam trong những năm qua cần có một cái nhìn tổng quan và đánh giá đúng đắn về mối quan hệ qua lại giữa đầu tư với tăng trưởng và phát triển, nhằm mục đích làm rõ vấn đề lý luận – thực tiễn về tác động của tiết kiệm – đầu tư đến tăng trưởng, phát triển kinh tế và ngược lại. Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy tối đa mối quan hệ này để phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước.

de_tai_phan_tich_anh_huong_cua_tiet_kiem_va_dau_tu_toi_tang

doc25 trang | Chia sẻ: superlens | Ngày: 21/09/2015 | Lượt xem: 9185 | Lượt tải: 33download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Phân tích ảnh hưởng của tiết kiệm và đầu tư tới tăng trưởng, phát triển kinh tế, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH THÁI NGUYÊN
BÀI THẢO LUẬN
Đề tài: PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA TIẾT KIỆM VÀ ĐẦU TƯ TỚI TĂNG TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Môn: KINH TẾ VĨ MÔ II
Lớp 02 – Nhóm 06
LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Từ khi giành được độc lập năm 1975 và đặc biệt là từ sau năm 1986 – khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt mục tiêu phát triển kinh tế lên hàng đầu với định hướng đến năm 2020 Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Để đạt được mục tiêu trên thì tiết kiệm và đầu tư là một yếu tố cực kỳ quan trọng vì chúng không những làm gia tăng tài sản của cá nhân, mà còn trực tiếp làm gia tăng tài sản vật chất cho nền kinh tế, có tác động rất mạnh mẽ đến phát triển kinh tế.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, đặc biệt năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao nhất trong lịch sử: 8,5%. Những năm 2008, 2009 mặc dù chịu ảnh hưởng chung của suy thoái kinh tế; song tăng trưởng kinh tế vẫn ổn định ở mức ở mức 6,15% và 5,32%. Một vấn đề cấp thiết được đặt ra là làm thế nào để duy trì tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế ấy trong một thời gian dài.
Từ thực trạng kinh tế Việt Nam trong những năm qua cần có một cái nhìn tổng quan và đánh giá đúng đắn về mối quan hệ qua lại giữa đầu tư với tăng trưởng và phát triển, nhằm mục đích làm rõ vấn đề lý luận – thực tiễn về tác động của tiết kiệm – đầu tư đến tăng trưởng, phát triển kinh tế và ngược lại. Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy tối đa mối quan hệ này để phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước.
PHẦN I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG
I. ĐẦU TƯ
1. Khái niệm
Trên góc độ kinh tế học vĩ mô: Đầu tư là hoạt động mua “tư bản hiện vật” như máy móc, xây dựng nhà xưởng nhằm thay thế một phần tài sản đã hao mòn để nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Đầu tư nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hi sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư. Nguồn lực phải hi sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.
Tóm lại, đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực vào các hoạt động nào đó nhằm đem lại lợi ích hoặc hoàn thành mục tiêu, mục đích của chủ đầu tư.
2. Phân loại
Hoạt động đầu tư được chia thành ba loại: Đầu tư phát triển, đầu tư tài chính, đầu tư thương mại.
Đầu tư tài chính và đầu tư thương mại là hoạt động đầu tư chỉ trực tiếp làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư, tác động gián tiếp đến làm tăng tài sản của nền kinh tế thông qua sự góp tài chính tích lũy của các hoạt động đầu tư này cho đầu tư phát triển, cung cấp vốn cho hoạt động đầu tư phát triển và thúc đẩy quá trình lưu thông phân phối các sản phẩm do kết quả của quá trình đầu tư phát triển tạo ra.
Đầu tư phát triển là hoạt động cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị, ) và tài sản trí tuệ (tri thức, kĩ năng, ), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.
Ba loại hình đầu tư này luôn luôn tồn tại trong nền kinh tế và có mối quan hệ tương hỗ với nhau. Đầu tư phát triển tạo tiền đề để tăng tích lũy, phát triển hoạt động đầu tư tài chính và đầu tư thương mại. Ngược lại, đầu tư tài chính và đầu tư thương mại hỗ trợ và tạo điều kiện để tăng cường đầu tư phát triển.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng ta tập trung chủ yếu vào hoạt động đầu tư phát triển.
II. TIẾT KIỆM
1. Khái niệm
Khi nói về tiết kiệm thì mỗi nhà kinh tế lại đưa ra khái niệm khác nhau. Nhà kinh tế học cổ điển Adam Smith trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” cho rằng: “Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn. Lao động tạo ra sản phẩm để tích luỹ cho quá trình tăng tiết kiệm. Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”.
Sang đến thế kỷ 19, C.Mác đã chứng minh rằng: Trong một nền kinh tế với hai khu vực, khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng. Để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng quy mô đầu tư, một mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở khu vực I, đồng thời phải sử dụng tiêt kiệm tư liệu sản xuất ở cả hai khu vực. Mặt khác, phải tăng cường sản xuất tư liệu tiêu dùng ở khu vực II, thực hành tiết kiệm tiêu dùng trong sinh hoạt ở cả hai khu vực. Như vậy, con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và tiêu dùng.
Đúc kết quan điểm của các nhà kinh tế học khác nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng vào điều kiện cụ thể của nước ta và đưa ra khái niệm về tiết kiệm: “Tiết kiệm là một quy luật, một phương pháp của một chế độ kinh tế, không phải chỉ tiết kiệm khi đất nước còn nghèo, mà ngay cả khi giàu có và càng giàu có càng phải thực hành tiết kiệm”. Bác luôn nhấn mạnh “tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là 2 vấn đề mấu chốt để xây dựng, phát triển kinh tế, phát triển văn hoá xã hội, để cải thiện đời sống nhân dân”. Tư tưởng quan điểm của Bác là “làm ra nhiều, chi dùng nhiều. Không cần thì không chi dùng. Đó là tất cả chính sách kinh tế của nước ta”. Tiết kiệm – theo Bác “cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân!”.
Như vậy, tiết kiệm là sử dụng nguồn lực tài chính, lao động và các nguồn lực khác ở mức thấp hơn định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định nhưng vẫn đạt được mục tiêu xác định hoặc sử dụng đúng định mức nhưng đạt hiệu quả cao hơn mục tiêu đã xác định.
2. Bản chất
Tiết kiệm trong mọi thời điểm rất dễ bị hiểu sai lệch, chúng ta cần phải tìm hiểu cặn kẽ và đúng đắn bản chất của tiết kiệm để trong quá trình thực hành và vận dụng trong thực tiễn có thể đúng hướng. Tiết kiệm là với chi phí thấp nhất để đạt hiệu quả cao nhất. Tiết kiệm phải được thực hiện một cách toàn diện, hoàn chỉnh bao gồm cả tiết kiệm của riêng, tiết kiệm của công. Nếu không biết tiết kiệm của riêng thì không thể tiết kiệm của công được. Nhưng nếu chỉ lo tiết kiệm của riêng mà phung phí của công là không đúng. Tiết kiệm không chỉ lao động, tiền mà cả thời giờ.
Trong thời điểm hiện nay, với chủ trương “kích cầu” của Nhà nước, chúng ta phải xem xét và khẳng định rằng không có sự mâu thuẫn giữa việc khuyến khích tiêu dùng và thực hành tiết kiệm. Tiết kiệm và kích cầu là hai vấn đề gắn bó với nhau nhưng hoàn toàn khác nhau. Tiết kiệm không có nghĩa là chi ít mà chi đúng và chi có hiệu quả. Thực hành tiết kiệm đồng thời với việc không chấp nhận việc tiêu dùng xa hoa, lãng phí, cần tiêu 1 mà tiêu 3, cần tiêu 3 lại tiêu 7. Bản thân từng người lao động, từng doanh nghiệp được Nhà nước khuyến khích tiêu dùng để thúc đẩy sản xuất bởi tiêu dùng là một khâu trong vòng tròn khép kín: sản xuất – lưu thông – phân phối – tiêu dùng. Đây chính là bản chất của tiết kiệm. Chúng ta hiểu và biết kết hợp hai vấn đề “ kích cầu “ và tiết kiệm để phát triển sản xuất. Như vậy mới có thể phát triển kinh tế được.
III. TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Sự tăng trưởng thể hiện ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kì. Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế.
Có rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá sự tăng trưởng kinh tế như: Tổng giá trị sản xuất (GO- Gross Output); Tổng sản phẩm quốc nội (GDP – Gross Domestic Product); Tổng thu nhập quốc dân (GNI – Gross National Income); Thu nhập quốc dân (NI – National Income); Thu nhập quốc dân khả dụng (NDI – National Disposable Income); Thu nhập bình quân đầu người (GDP/người)
2. Phát triển kinh tế
Hiện nay mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển và trải qua thời gian, khái niệm về phát triển cũng đã đi đến thống nhất. Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình biến đổi cả về lượng và chất, nó là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Theo cách hiểu như vậy, phát triển phải là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định. Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức:
Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên đầu người. Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển.
Hai là, sự biến  đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế. Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất kinh tế của một quốc gia. Để phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đó đạt được.
Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội. Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuồi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân v.v Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển.
PHẦN II: ẢNH HƯỞNG CỦA TIẾT KIỆM VÀ ĐẦU TƯ TỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
I. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ
1. Đầu tư tác động đến tổng cung của nền kinh tế
1.1. Đầu tư vào vốn
Vốn đầu tư hợp lý tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Các chính sách, cơ chế huy động và phân bổ vốn hợp lý không chỉ góp phần làm gia tăng quy mô vốn trong nền kinh tế mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, gia tăng mức độ đóng góp của nhân tố vốn trong tốc độ tăng trưởng, do đó, nâng cao được chất lượng tăng trưởng. Ngược lại, các chủ trương, chính sách đầu tư không hợp lý, năng lực quản lý yếu kém có thể dẫn đến sự mất cân đối trong huy động các nguồn lực. Hiệu quả và mức độ đóng góp của các nguồn lực không tương xứng với tiềm năng, dẫn đến những tác động tiêu cực trong tăng trưởng kinh tế, tạo ra chất lượng tăng trưởng không cao.
1.2. Đầu tư vào lao động
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức, thể lực của người lao động, để đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội dung cơ bản sau: đầu tư cho hoạt động đào tạo lực lượng lao động, đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe y tế, đầu tư cải thiện môi trường, điều kiện làm việc của người lao động
1.3. Đầu tư vào tài nguyên thiên nhiên
Từ những giá trị to lớn của tài nguyên thiên nhiên đem lại, hoạt động đầu tư rất cần chú trọng đến lĩnh vực này. Phải biết khai thác thể mạnh của từng ngành, từng vùng mà có hướng đầu tư hợp lý. Vùng có trữ lượng tài nguyên thiên nhiên phong phú thì ta chú trọng vào công tác khai thác nhưng đi kèm là bảo tồn, tránh hoạt động đầu tư khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên. Từ đó mới tạo ra được một hoạt động đầu tư hiệu quả và bền vững, kéo theo đó là tăng lợi nhuận và phát triển kinh tế.
1.4. Đầu tư vào khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ tạo điều kiện chuyển từ phát triển kinh tế theo chiều rộng sang phát triển kinh tế theo chiều sâu.Với vai trò này, khoa học và công nghệ là phương tiện để chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế tri thức. Trong đó phát triển nhanh các ngành công nghệ cao sử dụng nhiều lao động trí tuệ là đặc điểm nổi bật.
2. Đầu tư tác động đến tổng cầu của nền kinh tế
Cầu tiêu dùng giảm dẫn đến hàng hóa ế thừa, kinh tế trì trệ: Theo Keynes khi mức thu nhập tăng lên thì xu hướng tiêu dùng giảm đi còn xu hướng tiết kiệm trung bình tăng lên, do đó xu hướng tiết kiệm cận biên sẽ tăng lên. Việc giảm xu hướng tiêu dùng sẽ dẫn đến tiêu dùng giảm xuống. Cầu giảm dẫn đến hàng hóa ế thừa không bán được. Các nhà sản xuất bi quan về nền kinh tế sẽ thu hẹp quy mô sản xuất hoặc nếu không sẽ bị phá sản. Chính những điều này dẫn đến hiện tượng thất nghiệp xảy ra, tệ nạn xã hội bùng phát. Theo Keynes, sự sụt giảm đầu tư chính là nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế xã hội ở các nước tư bản vào những năm 30. Cũng theo Keynes tổng cầu tăng sẽ kích thích tổng cung tăng và tạo ra nền kinh tế đạt tới một sự cân bằng mới ở mức sản lượng cao hơn mức sản lượng cũ từ đó kinh tế sẽ tăng trưởng.
3. Đầu tư tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
3.1. Đối với cơ cấu ngành kinh tế
Việc đầu tư vào ngành nào, quy mô vốn là bao nhiêu, đồng vốn được sử dụng như thế nào đều tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến sự phát triển của ngành nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. Cụ thể, đầu tư sẽ góp phần tăng cường vật chất kĩ thuật, nâng cao hàm lượng công nghệ qua đó nâng cao năng suất lao động của ngành. Nhờ đó sẽ tạo ra sản lượng cao hơn với giá thành thấp hơn. Mặt khác, đầu tư là tiền đề tập trung các nguồn lực khác của nền kinh tế (lao động, tài nguyên, vốn dư thừa) cho mục tiêu phát triển ngành. . Sự thay đổi tỉ trọng giữa các ngành và sự ra đời của những ngành mới chính là chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
3.2. Đối với cơ cấu lãnh thổ kinh tế
Có thể dễ dàng nhận thấy bất cứ vùng nào nhận được một sự đầu tư thích hợp đều có điều kiện để phát huy mạnh mẽ những thế mạnh của mình. Những vùng tập trung nhiều khu công nghiệp lớn đều là những vùng rất phát triển của một quốc gia. Những vùng có điều kiện được đầu tư sẽ là đầu tàu kéo các vùng khác cùng phát triển. Những vùng kém phát triển có thể nhờ vào đầu tư để thoát khỏi đói nghèo và giảm dần khoảng cách với các vùng khác.
3.3. Đối với cơ cấu thành phần kinh tế
Đối với mỗi quốc gia, việc tổ chức các thành phần kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào chiến lược phát triển của chính phủ. Các chính sách kinh tế sẽ quyết định thành phần nào là chủ đạo; thành phần nào được ưu tiên phát triển; vai trò; nhiệm vụ của các thành phần trong nền kinh tếỞ đây đầu tư đóng vai trò nhân tố thực hiện.
4. Đầu tư tác động tới tiến bộ xã hội
Đầu tư với vai trò là một nhân tố vô cùng quan trọng quyết định trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế cũng đồng thời là một nhân tố gián tiếp góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ. Tất cả những hoạt động đầu tư hợp lý và đúng trọng điểm góp phần mang lại một nền kinh tế tăng trưởng nhanh thông qua đó nâng cao một số chỉ tiêu phản ánh nhu cầu của con người, đó là những nhu cầu về mức sống vật chất, nhu cầu giáo dục, y tế- chăm sóc sức khỏe, nhu cầu về việc làm. Hoạt động đầu tư tác động tới tăng trưởng kinh tế từ đó nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống vật chất sau đó là tiếp cận các dịch vụ cơ bản của xã hội như y tế, giáo dục. Hoạt động đầu tư cũng trực tiếp cung cấp tạo công ăn việc làm cho người dân, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp.
5. Đầu tư tác động tới môi trường
Đầu tư trong vai trò là nhân tố thực hiện đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc tác động tới môi trường từ nhiều góc độ.
Ở góc độ tích cực chúng ta có thể nhận thấy thông qua các mục tiêu, kế hoạch đặt ra trong công tác huy động vốn, nguồn lực vào các vùng kinh tế, các khu vực kinh tế có môi trường bị ô nhiễm để khắc phục và giảm bớt sự ô nhiễm, phân bổ hài hòa, cân bằng lại môi trường sinh thái.
Ở góc độ tiêu cực, đầu tư giúp tăng trưởng và phát triển kinh tế nhưng cũng đồng thời lấy đi nguồn lực vô cùng lớn là nguồn tài nguyên thiên nhiên, nếu lấy đi mà không có biện pháp cân đối, tiết kiệm thì hậu quả mất cân bằng sinh thái, các hiểm họa về môi trường xảy ra là một việc khó lường.
Môi trường vừa là đầu vào, vừa là đầu ra của tất cả những hoạt động đầu tư phát triển, tác động của đầu tư tới môi trường có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng đó cũng chính là một trong những yếu tố quyết đinh cho một nền kinh tế phát triển và bền vững.
II. ẢNH HƯỞNG CỦA TIẾT KIỆM
Mô hình Harrod – Domar giải thích mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với yếu tố tiết kiệm và đầu tư vốn.
Để xây dựng mô hình, các tác giả đưa ra 2 giả định:
– Lao động đầy đủ việc làm, không có hạn chế với cung lao động.
– Sản xuất tỷ lệ với khối lượng máy móc.
Nếu gọi: Y : Là sản lượng năm t
: Sản lượng gia tăng trong kì
S : Tổng tiết kiệm trong năm
g = ∆YYt : Tốc độ tăng trưởng kinh tế
s = StYt : Tỷ lệ tiết kiệm/GDP
Hệ số k (hệ số ICOR): Tỷ lệ gia tăng của vốn so với sản lượng
Từ công thức: k = ∆K∆Y
Nếu , ta có : k = I∆Y
Ta lại có: I = S = s *Y.
Thay vào công thức tính ICOR, ta có:
k = ∆K∆Y=s*Y∆Y
Từ đây suy ra:
Phương trình phản ánh tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Cuối cùng ta có:
Như vậy, theo Harrod – Domar, tiết kiệm là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Muốn gia tăng sản lượng với tốc độ g thì cần duy trì tỷ lệ tích luỹ để đầu tư trong GDP là s với hệ số ICOR không đổi. Mô hình thể hiện tiết kiệm S là nguồn vốn của đầu tư I, đầu tư làm gia tăng vốn sản xuất (K), gia tăng vốn sản xuất sẽ trực tiếp gia tăng Y.
PHẦN III: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA TIẾT KIỆM VÀ ĐẦU TƯ TỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
1. Đầu tư vào khoa học công nghệ
Hàng năm mức đầu tư KH-CN cho nông nghiệp tăng từ 10-15%. Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam (VAAS) đã triển khai thực hiện một khối lượng đề tài KH – CN khá lớn trong đó có lĩnh vực quan trọng là tạo ra giống cây trồng có năng suất, chất lượng cao. Công nghệ sinh học (mà trọng tâm là công nghệ chuyển gen) và cấy mô được ứng dụng ngày một rộng rãi. Bên cạnh đó còn có rất nhiều những chương trình nghiên cứu, đề tài khoa học được triển khai ở các trường đại học đã đạt được nhiều thành tựu đã góp phần đưa nước ta thành nước xuất khẩu gạo và cà phê thứ 2 thế giới, hạt điều xuất khẩu đứng thứ nhất thế giới
Về mặt công nghiệp, dịch vụ.: Số lượng các phát minh sáng chế được nghiên cứu và sản xuất thành công trong nước không ngừng được tăng cao. Việt Nam cũng đã làm chủ được một số công nghệ cao chuyên ngành trong các lĩnh vực như điện tử – tin học – viễn thông, thăm dò, khai thác dầu khí, công nghiệp đóng tầu Trong lĩnh vực dầu khí, hiện nay đã và đang có rất nhiều dự án đầu tư xây dựng các nhà máy lọc dầu tại Việt Nam, tiêu biểu là nhà máy lọc dầu Dung Quất tại Quảng Ngãi, nhà máy lọc dầu Nghi Sơn tại Thanh Hóa, nhà máy lọc dầu Vũng Rô tại Phú Yên. Đặc biệt, nhờ việc làm chủ công nghệ tiên tiến mà ngành đóng tàu nước ta được xếp vào top 5 cường quốc đóng tàu trên thế giới.
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư: đã có trên 194 KCN với diện tích sử dụng tự nhiên trên 46.000 ha, đất công nghiệp chiếm khoảng 65% (trên 30.000 ha) đã thu hút 3325 dự án nước ngoài với tổng số vốn đầu tư trên 39 tỷ USD. Từ sự hình thành các KCN, nhiều mô hình mới đang được hình thành gắn kết các KCN với khu đô thị và khu dịch vụ (như mô hình khu liên hợp đô thị công nghiệp dịch vụ Bình Dương); 13 khu kinh tế (gọi tắt là KKT) đặc thù đã và đang được hình thành Việc hình thành các KKT hướng tới hoàn thiện hơn mô hình KCN; khai thác hiệu quả tài nguyên và tiềm năng đặc thù của từng địa phương và vùng lãnh thổ.
Những thành quả trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà sau khi được chuyển giao và ứng dụng vào thực tế sản xuất đã đem lại hiệu quả đáng kể cho nền kinh tế. Qua đó ta có thể thấy, đi cùng sự gia tăng mạnh mẽ đầu tư vào nền kinh tế Việt Nam là sự phát triển vũ bão của năng lực công nghệ quốc gia.
Hạn chế :
Hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KH – CN ở nước ta còn chậm, mức đầu tư thấp, các nhà khoa học chưa được quan tâm, hỗ trợ kịp thời. Việt Nam đầu tư khoảng 0,6% GDP cho

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Phân tích ảnh hưởng của tiết kiệm và đầu tư tới tăng trưởng, phát triển kinh tế

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *