[block id=”bo-sung-1″]

Lịch sử là một một môn học đặc thù với những chuỗi sự kiện, diễn biến đã diễn
ra trong quá khứ. Vì vậy, nhiệm vụ của dạy học lịch sử là khôi phục lại bức tranh quá
khứ để từ đó rút ra bài học từ quá khứ, vận dụng nó vào trong cuộc sống hiện tại và
tương lai. Đây là môn học yêu cầu người học là phải “Biết sự kiện – Hiểu sự kiện –
Nhớ sự kiện”, từ đó có sự phân tích, tư duy lôgic, khái quát, và đánh giá sự kiện. Tuy
nhiên, các đồ dùng dạy học truyền thống hiện nay còn rất nhiều hạn chế, chưa thể đáp
ứng đầy đủ những yêu cầu của bộ môn và yêu cầu của quá trình đổi mới phương pháp
dạy học bộ môn lịch sử.

de_tai_sang_kien_kinh_nghiem_su_dung_ban_do_tu_duy_trong_day

pdf24 trang | Chia sẻ: lecuong1825 | Ngày: 12/07/2016 | Lượt xem: 4293 | Lượt tải: 20download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học môn Lịch sử 9, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Giáo viên: Nguyễn Thị Thủy Năm học: 2011-2012
Trường THCS Hồng Thủy
1
Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng bản đồ tư duy
trong dạy và học môn Lịch sử 9
Giáo viên: Nguyễn Thị Thủy Năm học: 2011-2012
Trường THCS Hồng Thủy
2
A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lịch sử là một một môn học đặc thù với những chuỗi sự kiện, diễn biến đã diễn
ra trong quá khứ. Vì vậy, nhiệm vụ của dạy học lịch sử là khôi phục lại bức tranh quá
khứ để từ đó rút ra bài học từ quá khứ, vận dụng nó vào trong cuộc sống hiện tại và
tương lai. Đây là môn học yêu cầu người học là phải “Biết sự kiện – Hiểu sự kiện –
Nhớ sự kiện”, từ đó có sự phân tích, tư duy lôgic, khái quát, và đánh giá sự kiện. Tuy
nhiên, các đồ dùng dạy học truyền thống hiện nay còn rất nhiều hạn chế, chưa thể đáp
ứng đầy đủ những yêu cầu của bộ môn và yêu cầu của quá trình đổi mới phương pháp
dạy học bộ môn lịch sử. Trong việc khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách sinh động
thì phương tiện trực quan là một yếu tố hết sức cần thiết. Do đó, bên cạnh ứng dụng
công nghệ thong tin vào giảng dạy thì việc sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy và học là
phương pháp tối ưu nhằm phát huy tính tích cực và khả năng tư duy của học sinh.
Trước thực tiễn đó, với sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã mạnh dạn sử dụng Bản đồ tư
duy vào việc nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn Lịch sử trong nhà trường. Với mong
muốn việc sử dụng Bản đồ tư duy được mở rộng trong nhà trường và trong toàn ngành,
đó là lý do tôi chọn đề tài “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học môn lịch sử lớp
9”.
II. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Với đề tài này, tôi muốn tìm hiểu thực trạng dạy học lịch sử lớp 9 ra sao? Trên cơ sở đó
tôi sử dụng phương pháp dạy học mới đó là “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học
môn lịch sử lớp 9” theo hướng tích cực giúp cho giáo viên và học sinh yêu thích môn
lịch sử và nâng cao hiểu biết về phương pháp dạy học mới để đưa chất lượng dạy học
bộ môn có kết quả cao.
2. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
– Xây dựng cơ sở về lý luận dạy học lịch sử theo sử dụng bản đồ tư duy.
– Tìm hiểu thực trạng về dạy học lịch sử ở trường THCS ở Huyện Lệ Thủy nói chung và
trường THCS Hồng Thủy nói riêng.
Giáo viên: Nguyễn Thị Thủy Năm học: 2011-2012
Trường THCS Hồng Thủy
3
– Đưa ra những giải pháp để sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học lịch sử lớp 9 một cách
tối ưu nhất.
– Từ kết quả thực nghiệm để triển khai và đánh giá kết quả rút ra bài học kinh nghiệm
bổ ích.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Do xuất phát từ thực tế dạy và học môn Lịch sử của trường tôi nên đề tài này tôi
chỉ nghiên cứu giới hạn ở học sinh lớp 9B, 9C trường THCS Hồng Thủy.
III. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu hướng dẫn dạy học theo phương pháp lập bản đồ tư duy của TS Trần Đình
Châu và TS Đặng Thị Thu Thủy của Bộ GD &ĐT.
2. Hoạt động dạy học bằng phương pháp “Lập bản đồ tư duy” (Tài nguyên dạy học Bộ
GD&ĐT)
3. Sách giáo khoa, sách giáo viên lịch sử lớp 9
4. Một số hình ảnh, bản đồ khai thác từ mạng Internet
5. Một số vấn đề đổi mới PPDH ở trường THCS lớp 9(2006) của bộ GD-ĐT
Giáo viên: Nguyễn Thị Thủy Năm học: 2011-2012
Trường THCS Hồng Thủy
4
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Cơ sở khoa học về phương pháp dạy học theo bản đồ tư duy.
Bản đồ tư duy(BĐTD) còn goị là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy, là hình thức ghi
chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một
mạch kiến thức bằng cách kết hợp sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc,
chữ viết với sự tư duy tích cực để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Đặc biệt BĐTD là
một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm
hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các
cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới
dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng
sáng tạo của mỗi người.
Cơ chế hoạt động của BĐTD là chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng
lưới liên tưởng (các nhánh). BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với
nhau vì vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến
thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương và giúp học sinh
hiểu bài, nhớ lâu, nhớ sâu.
2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo bản đồ tư duy.
– Đối với học sinh
+ BĐTD giúp học sinh học được phương pháp học: Việc rèn luyện
phương pháp học cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà
còn là mục tiêu dạy học. Thực tế cho thấy một số học sinh học rất chăm chỉ nhưng vẫn
học kém, nhất là môn học thuộc như Lịch sử, các em này thường học bài nào biết bài
đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau,
không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Phần lớn số học
sinh này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu
thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Sử dụng thành thạo BĐTD
trong dạy học học sinh sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động,
sáng tạo và phát triển được tư duy.
Giáo viên: Nguyễn Thị Thủy Năm học: 2011-2012
Trường THCS Hồng Thủy
5
+ Giúp học sinh học tập một cách tích cực: Một số kết quả nghiên cứu
cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự
suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình, vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp học
sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa sự tư duy và sáng tạo của học mình, từ
đó nhớ bài lâu và hiểu bài sâu.
+ Học sinh tự vẽ BĐTD có ưu điểm: Phát huy tối đa tính sáng tạo, phát
triển năng khiếu hội họa, sở thích của mình, các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ,
vàng, tím,), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong), các em tự “sáng tác” nên trên
mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh và BĐTD
do các em tự thiết kế vì vậy các em yêu quí, trân trọng “tác phẩm” của mình.
– Đối với giáo viên
+ Bản đồ tư duy – phương pháp dạy học bằng cách sử dụng đồng thời
hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết, với sự tư duy tích cực không chỉ tạo hứng thú
trong học tập của học sinh mà còn góp phần đổi mới và làm phong phú các phương
pháp giáo dục tích cực.
+ Dạy học bằng BĐTD dành nhiều thời gian cho học sinh làm việc, chia
sẻ với bạn bè, công việc của giáo viên đỡ vất vả nhiều so với cách dạy truyền thống.
Dạy học bằng BĐTD giúp học sinh thuộc bài ngay tại lớp, nhớ nhanh, nhớ sâu, nhớ lâu
và nhớ chính xác những nội dung bài học. Dạy học bằng phương pháp BĐTD giúp các
em không thấy nhàm chán vì bài học dài dòng mà luôn sôi nổi, hào hứng từ đầu đến
cuối tiết học.
+ Dạy học bằng BĐTD sẽ nâng cao hiệu quả trong việc củng cố kiến thức,
rèn các kỹ năng và phát triển tư duy lôgíc cho HS. Với chủ trương giảm tải thực hiện từ
năm học này, dạy bằng BĐTD sẽ làm cho cô và trò không bị mất thời gian vào các chi
tiết vụn vặn, trùng lặp mà tập trung thảo luận sâu và phát triển vấn đề cốt lõi của bài.
+ Dạy học bằng BĐTD còn có tác dụng phân loại đối tượng học sinh: học
sinh khá, giỏi phát huy được khả năng sáng tạo, lập BĐTD theo sự hiểu biết của mình
hiểu bài, nhớ bài sâu và lâu. Trái lại học sinh học trung bình trở xuống khó tiếp cận vận
dụng chậm, lười tư duy. Do đó dạy học theo BĐTD giáo viên cần dành thời gian hướng
dẫn cho những đối tượng học sinh này nhiều hơn.
Giáo viên: Nguyễn Thị Thủy Năm học: 2011-2012
Trường THCS Hồng Thủy
6
Đổi mới phương pháp dạy học xưa và nay thường gắn liền với đổi mới khoa học
công nghệ, đòi hỏi hạ tầng cơ sở vật chất tốt. Những điều kiện này lại thường khó thực
hiện ở các trường vùng sâu vùng xa, nơi kinh tế còn nhiều khó khăn. Song dạy học
bằng BĐTD có thể dạy được ở tất cả các trường học nơi cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư
hoặc đầu tư chưa đầy đủ vẫn có thể áp dụng tốt bằng cách làm bảng phụ.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Từ 15 đến 20 năm nay, nhiều nước trên thế giới đã ứng dụng BĐTD trong giảng
dạy, học tập, làm việc, kinh doanh lập kế hoạch. Ở Việt Nam việc sử dụng BĐTD trong
giảng dạy đã có từ lâu nhưng chỉ dưới dạng sơ đồ hệ thống kiến thức đơn giản và chỉ áp
dụng cho một số bộ môn. Trong 3 năm gần đây, TS Trần Đình Châu và TS Đặng Thị
Thu Thủy, cùng các cán bộ Viện Nghiên cứu Giáo dục Việt Nam, Dự án Phát triển Giáo
dục THCS kết hợp với Vụ Giáo dục Trung học và Cục Nhà giáo của Bộ GD-ĐT đã tìm
tòi nghiên cứu để cụ thể hóa việc ứng dụng BĐTD vào dạy học tại Việt Nam. Trên 30
bài báo khoa học cùng với 4 cuốn sách: “Dạy tốt- học tốt các môn học bằng bản đồ tư
duy” dùng cho giáo viên và học sinh từ lớp 4 đến lớp 12 của hai tác giả trên do Nhà
xuất bản Giáo dục phát hành đã được ngành GD quan tâm.
Năm 2010, ứng dụng BĐTD trong dạy và học đã được triển khai thí điểm tại 355
trường trên toàn quốc. Hè 2011, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho tiến hành giảm tải
nội dung dạy học, năm học 2011- 2012 dạy học bằng BĐTD là 1 trong 5 chuyên đề dạy
học tích cực được tập huấn cho hơn 4.000 giáo viên cốt cán bậc THCS trên cả nước.
Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển đã khẳng định: “Toàn ngành nỗ
lực giảm tải mạnh mẽ nội dung dạy học theo 5 tiêu chí trên nguyên tắc vẫn phải giữ
được mạch kiến thức và tính thống nhất của chương trình. Điều đó có nghĩa là giảm tải
những nội dung trùng lắp, nhàm chán, không phù hợp… nhưng không giảm yêu cầu”.
Muốn vậy, cùng với giảm tải phải tiến hành áp dụng các phương pháp dạy học tích cực,
từng bước chuyển cách dạy và học từ chổ trang bị kiến thức cho người học sang dạy
học sinh cách tiếp nhận và tìm tòi kiến thức, vận dụng vào thực tế và biến thành kỹ
năng của riêng mình. Cùng với các phương pháp dạy học tích cực khác, việc triển khai
dạy học bằng BĐTD chính là một công cụ phù hợp mà các trường đang thực hiện để
Giáo viên: Nguyễn Thị Thủy Năm học: 2011-2012
Trường THCS Hồng Thủy
7
tiến hành giảm tải đạt chất lượng, làm phong phú thêm PPDH tích cực đã và đang thực
hiện.
III. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Thực trạng
1.1. Thực trạng dạy học lịch sử theo phương pháp sử dụng BĐTD ở Huyện
Lệ Thủy.
Qua nắm bắt tình hình và trao đổi với đồng nghiệp về việc giảng dạy lịch sử có liên
quan đến BĐTD bản than tôi nhận thấy.
a. Về phía giáo viên:
Khi giảng dạy một tiết có liên quan đến BĐTD rất đơn giản, chỉ cần lấy sẵn một tiết n
ào đó có ở mạng Internet và chỉnh sửa đôi chút là được và trong giáo án thì không thể
hiện rõ từng bước tiến hành sử dụng BĐTD như thế nào, thông qua BĐTD thì giáo viên
chưa hướng dẫn cụ thể cho học sinh cách thiết kế và sử dụng nắm bắt kiến thức ở
BĐTD ra sao. Bên cạnh đó một số giáo viên chưa thật sự chú trọng và còn tẻ nhạt với
phương pháp dạy học này.
b. Về phía học sinh:
Học sinh chưa có thói quen chuẩn bị đồ dùng học tập như giấy A4, bút màu, bút chì,
tẩy hoặc bảng phụ trong tiết học lịch sử mà chỉ dung cho trong tiết học Mỹ thuật. Mặt
khác, học sinh chưa hiểu rõ cách thể hiện nội dung, kiến thức như thế nào trong việc
thiết kế và sử dụng bản đồ tư duy.
1.2. Thực trạng về sử dụng BĐTD trong dạy học lịch sử ở trường THCS
Hồng Thủy.
Với địa bàn tương đối khó khăn, nhận thức của người dân còn thấp, hiểu biết chưa
cao, học sinh còn chưa ham muốn học tập bộ môn này. Chính vì vậy, chất lượng học
tập, sự sáng tạo, tư duy của học sinh còn yếu cho nên việc sử dụng BĐTD trong học tập
của các em vẫn gặp khó khăn.
Hầu như các em chưa có thói quen tìm hiểu, vận dụng, sáng tạo mà chỉ quen nghe,
quen ghi chép những gì mà giáo viên nói. Hơn nữa chương trình lịch sử quá rộng, kiến
thức nhiều mà giáo viên chưa rút gọn những gì cần truyền đạt, những gì chỉ giới thiệu
qua và những vấn đề nào cần hướng dẫn cho học sinh.
Giáo viên: Nguyễn Thị Thủy Năm học: 2011-2012
Trường THCS Hồng Thủy
8
2. Giải pháp thực hiện
Qua tìm hiểu thực tế và sử dụng BĐTD trong dạy và học môn lịch sử ở trường
THCS nói chung và trường THCS Hồng Thủy nói riêng, bản thân đã thực hiện các giải
pháp để sử dụng BĐTD trong dạy và học môn lịch sử lớp 9 như sau.
2.1. Tổ chức dạy học bằng BĐTD.
Dựa vào nguyên tắc dạy học và tác dụng của bản đồ tư duy chúng ta áp dụng dạy
được ở nhiều dạng bài: Bài mới, ôn tập, hệ thống chương hoặc giai đoạn, làm bài tập
lịch sử, đặc biệt là củng cố bài. Giáo viên hướng dẫn học sinh đi từ khái quát đến cụ thể,
dựa trên cơ sở nguyên lý của bản đồ tư duy hướng dẫn học sinh lập bản đồ tư duy:
( Nội dung chìa khóa là cây cành nhánh) từ đó học sinh mở rộng, phát
triển thêm.
Thực hiện dạy học bằng cách lập BĐTD được tóm tắt qua 4 bước như sau:
– Bước 1: Học sinh lập BĐTD theo nhóm hay cá nhân với gợi ý, hướng dẫn của
giáo viên.
– Bước 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết
minh về BĐTD mà nhóm mình đã thiết lập.
– Bước 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện BĐTD về kiến
thức của bài học đó. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh
BĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học.
– Bước 4: Củng cố kiến thức bằng một BĐTD mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn
hoặc một BĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho học sinh lên trình
bày, thuyết minh về kiến thức đó.
Khi củng cố kiến thức giáo viên hướng dẫn HS hệ thống kiến thức bài học bằng
bản đồ tư duy.
Giáo viên: Nguyễn Thị Thủy Năm học: 2011-2012
Trường THCS Hồng Thủy
9
(Lưu ý: – BĐTD là một sơ đồ mở, GV yêu cầu các nhóm HS nên vẽ các kiểu BĐTD
khác nhau, GV chỉ nên chỉnh sửa cho HS về mặt kiến thức, góp ý thêm về đường nét
vẽ, màu sắc và hình thức, cấu trúc (nếu cần)).
– Ghi bảng: Giáo viên tóm tắt bài học bằng một sơ đồ kiến thức (Dàn bài).
Ví dụ : Dạy bài “Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 và sự thành lập nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa” – Lớp 9.
Đặc điểm của bài này là học sinh đã nắm được những sự kiện, diễn biến và khí
thế của phong trào cách mạng nước ta trước đó, nắm được những bước phát triển của
cách mạng Việt Nam và điều kiện để tiến tới tổng khởi nghĩa. Biết những hình ảnh, tư
liệu về cách mạng tháng Tám năm 1945. Vì vậy khi dạy bài này chúng ta hướng dẫn
học sinh hoạt động nhóm thiết lập BĐTD với “Chìa khóa” là “Tổng khởi nghĩa tháng
tám và sự thành lập nước VNDCCH”. Từ đó xậy dựng kiến thức của từng nội dung
lớn, nhỏ (Cây  cành  nhánh) việc làm này giúp học sinh tư duy lựa chọn kiến thức
để lập và phát triển thêm.
Hoạt động 1: Lập BĐTD
– Giáo viên hướng dẫn, gợi ý học sinh tiếp cận những nội dung chính của bài học.
Chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm được phân công vẽ 1 BĐTD cho 1 nội dung chính
của bài và hướng dẫn học sinh triển khai sơ đồ theo các vấn đề, nội dung, sự kiện.
– Lưu ý với học sinh nguyên tắc của BĐTD là chỉ viết những nội dung chính, ngắn gọn,
khi trình bày phát triển thêm.
Giáo viên: Nguyễn Thị Thủy Năm học: 2011-2012
Trường THCS Hồng Thủy
10
Hoạt động 2: Báo cáo, thuyết minh về BĐTD.
Cử HS hoặc đại diện của các nhóm lên báo cáo, thuyết minh về BĐTD mà nhóm
mình đã thiết lập. Qua hoạt động này giáo viên nắm được việc hiểu kiến thức, kỹ năng
trình bày, tinh thần học tập của học sinh, từ đó giáo viên vừ bổ sung kiến thức vừa rèn
cho các em khả năng thuyết trình trước đông người, kỹ năng tự tin hơn, mạnh dạn hơn,
đây cũng là một trong những điểm cần rèn luyện của học sinh hiện nay đó là (kỹ năng
sống).
Hoạt động 3: Thảo luận, chỉnh sửa, hoàn thiện BĐTD.
Tổ chức cho học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa, chất vấn, khắc sâu kiến thức và
hoàn thiện BĐTD về kiến thức của nội dung vừa tìm hiểu. (giáo viên sẽ là người cố
vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh BĐTD).
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một BĐTD.
Giáo viên cho học sinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức của bài, thông qua
một BĐTD do GV đã chuẩn bị sẵn (vẽ ở bảng phụ hoặc ở bìa), hoặc BĐTD mà các em
vừa thiết kế và cả lớp đã chỉnh sửa, hoàn thiện
2.2. Sử dụng BĐTD trong việc kiểm tra bài cũ
Vì thời gian kiểm tra bài cũ không nhiều, chỉ khoảng 5-7 phút nên yêu cầu của
giáo viên thường không quá khó, không đòi hỏi nhiều sự phân tích, so sánh để trả lời
câu hỏi. Giáo viên thường yêu cầu học sinh tái hiện lại một phần nội dung bài học bằng
cách gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi. Giáo viên sẽ chấm điểm tùy vào mức độ
thuộc bài của học sinh. Cách làm này vô tình để nhiều học sinh roi vào tình trạng “học
vẹt”, đọc thuộc long mà không hiểu bài. Do đó, cần phải có sự thay đổi trong việc kiểm
tra, đánh giá nhận thức của học sinh, yêu cầu đặt ra không chỉ “phần nhớ” mà cần chú
trọng đến “phần hiểu”. Cách làm này vừa tránh được việc học vẹt, vừa đánh giá chính
xác học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng học tập. Sử dụng bản đồ tư duy vừa giúp
giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh đối với bài học cũ. Các
bản đồ thường được giáo viên sử dụng ở dạng thiếu thiếu thong tin, yêu cầu học sinh
điền các thong tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin
với từ khóa trung tâm.
Giáo viên: Nguyễn Thị Thủy Năm học: 2011-2012
Trường THCS Hồng Thủy
11
Ví dụ: Trước khi dạy học bài 6 Các nước Châu Phi (lịch sử 9), giáo viên yêu cầu học
sinh lên bảng điền các thông tin còn thiếu để hoàn thiện BĐTD về sự ra đời và quá trình
phát triển thành viên của tổ chức ASEAN(mục II, III bài 5 Các nước Đông Nam Á)
Ví dụ: Hoặc trước khi dạy bài 15: Phong trào cách mạng Việt Nam sau chiến tranh
thế giới thứ nhất 1919-1925 (lịch sử 9), giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng điền các
thông tin còn thiếu để hoàn thiện BĐTD bài 14: Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ
nhất (mục III).
Giáo viên: Nguyễn Thị Thủy Năm học: 2011-2012
Trường THCS Hồng Thủy
12
Sau khi học sinh đã hoàn thiện bản đồ, học sinh cần rút ra nhận xét về hoàn cảnh ra
đời, mục tiêu hoạt động, sự phát triền thành viên của tổ chức ASEAN và nói rõ thái độ
chính trị và khả năng cách mạng của từng gia cấp, tầng lớp xã hội Việt Nam sau chiến
Giáo viên: Nguyễn Thị Thủy Năm học: 2011-2012
Trường THCS Hồng Thủy
13
tranh thế giới thứ nhất, hay nói cách khác là nhận xét về mối quan hệ giữa các nhánh
thông tin với từ chìa khóa trung tâm. Đây chính là phần hiểu bài của học sinh mà giáo
viên cần căn cứ vào đó để đánh giá, nhận xét.
2.3. Sử dụng BĐTD trong việc giảng bài mới.
Sử dụng bản đồ tư duy là một gợi ý cho cách trình bày. Giáo viên thay vì gạch
chân đầu dòng các ý cần trình bày lên bảng thì sử dụng BĐTD để thể hiện một phần
hoặc toàn bộ nội dung bài học một cách rất trực quan.
Ví dụ: Bài 23: Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 và sự thành lập nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (Lịch sử 9), để xác định lệnh Tổng khởi nghĩa, việc giành
chính quyền ở Hà Nội, trong cả nước và ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thành công của
cách mạng tháng Tám là phần kiến thức không khó nhưng không dễ nhớ đối với học
sinh. Nếu giáo viên sử dụng phương pháp trình bày truyền thống thì vấn đề vẫn được
giải quyết nhưng không hiệu quả vì nội dung dàn trải, hết nội dung này đến nội dung
khác, học sinh sẽ không thấy được mối quan hệ về việc chớp thời cơ để Tổng khởi
nghĩa và việc dành chính quyền ở Hà Nội có ý nghĩa như thế nào đối với việc giành
chính quyền trong cả nước và đặc biệt là ý nghĩa to lớn, nguyên nhân thành công của
cách mạng tháng Tám.
Sau khi giới thiệu xong nội dung kiến thức cần nắm trong bài học hôm nay giáo viên
có thể tổ chức cho học sinh làm việc theo cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ, dựa vào nội
Giáo viên: Nguyễn Thị Thủy Năm học: 2011-2012
Trường THCS Hồng Thủy
14
dung trong sách giáo khoa, bản đồ trong sách giáo khoa, bản đồ treo tường để hoàn
thành bài tập. Cuối cùng giáo viên cùng học sinh hoàn thiện được một bản đồ tư duy
kiến thức theo ý muốn của mình, kết quả có thể như sau.
2.4. Sử dụng bản đồ tư duy trong việc củng cố kiến thức bài học
Phù hợp với kiến thức củng cố kiến thức cho họ

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học môn Lịch sử 9

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *