[block id=”bo-sung-1″]

1962 : công ty được thành lập với cửa hàng đầu tiên của Walmart tại Rogers,
Arkansass, Mỹ với người sáng lập là Sam Walton.
1969: công ty chính thức trở thành
tập đoàn và mang tên Walmart
Stores Inc.
1970 : Walmart mở trung tâm phân
phối đầu tiên và mở văn phòng tại
Benonville.
1972 : Walmart chính thức niêm yết
chứng khoán trên Sàn Giao dịch Chứng khoán New York.
1975 : lấy cảm hứng sau chuyến thăm Hàn Quốc, Sam Watson giới thiệu “Walmart
Cheer” nổi tiếng.
1983 : Sam’s Club mở lần đầu tiên vào tháng 4 tại thành phố Midwest, Oklahoma.
1987 : mạng lưới vệ tinh Walmart được hoàn tất và đi vào hoạt động, đây là hệ
thống vệ tinh tư truyền thông tin lớn nhất nước Mỹ.
1988 : Supercenter đầu tiên được mở tại Washington.
1990 : Walmart trở thành nhà bán lẻ số 1 tại Mỹ.
1991 : bước vào thị trường thế giới lần đầu tiên với việc mở chi nhánh tại Mexico
City.
1993 : Walmart International Division được thành lập với Bobby Martin làm chủ
tịch.
1995 : xây dựng 3 chi nhánh tại Argentina và 5 chi nhánh tại Brazil.

de_tai_su_mo_rong_toan_cau_cua_walmart

 

pdf15 trang | Chia sẻ: tranhieu.10 | Ngày: 24/07/2018 | Lượt xem: 1498 | Lượt tải: 1download

Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Sự mở rộng toàn cầu của Walmart, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
SỰ MỞ RỘNG TOÀN CẦU CỦA
WALMART
GVHD : TS NGUYỄN HÙNG PHONG
LỚP : ĐÊM 3 – K22
NHÓM : 2
1. Phạm Hoàng Hạnh
2. Đỗ Văn Hựu
3. Lê Thị Mậu Huyền
4. Nguyễn Huỳnh Như Trúc
5. Nguyễn Quốc Việt
TPHCM, tháng 12/2013
Sự mở rộng toàn cầu của Wal-Mart Tiểu luận môn: Quản trị kinh doanh quốc tế
MBA-K22-Đêm 3-Nhóm 2 Page 1
MỤC LỤC
1. Giới thiệu về Walmart………………………………………………………………………………………. 2
2. Walmart có được lợi ích gì từ việc mở rộng toàn cầu? ……………………………………………. 3
3. Những rủi ro nào mà Walmart gặp phải khi thâm nhập vào các thị trường bán lẻ khác?
Làm thế nào để hạn chế những rủi ro đó? ………………………………………………………………… 6
4. Theo bạn, tại sao Walmart thâm nhập thị trường Mexico đầu tiên bằng hình thức liên
doanh? Tại sao công ty mua lại cổ phần của đối tác Mexico trong liên doanh vào năm
1998? ………………………………………………………………………………………………………………… 9
5. Walmart đang theo đuổi chiến lược nào – toàn cầu, địa phương hóa, quốc tế, hay xuyên
quốc gia? Việc lựa chọn chiến lược này có hiệu quả không? Tại sao? …………………………. 12
6. Tài liệu tham khảo …………………………………………………………………………………………. 14
Sự mở rộng toàn cầu của Walmart Tiểu luận môn: Quản trị kinh doanh quốc tế
MBA-K22-Đêm 3-Nhóm 2 Page 2
1. Giới thiệu về Walmart
1962 : công ty được thành lập với cửa hàng đầu tiên của Walmart tại Rogers,
Arkansass, Mỹ với người sáng lập là Sam Walton.
1969 : công ty chính thức trở thành
tập đoàn và mang tên Walmart
Stores Inc.
1970 : Walmart mở trung tâm phân
phối đầu tiên và mở văn phòng tại
Benonville.
1972 : Walmart chính thức niêm yết
chứng khoán trên Sàn Giao dịch Chứng khoán New York.
1975 : lấy cảm hứng sau chuyến thăm Hàn Quốc, Sam Watson giới thiệu “Walmart
Cheer” nổi tiếng.
1983 : Sam’s Club mở lần đầu tiên vào tháng 4 tại thành phố Midwest, Oklahoma.
1987 : mạng lưới vệ tinh Walmart được hoàn tất và đi vào hoạt động, đây là hệ
thống vệ tinh tư truyền thông tin lớn nhất nước Mỹ.
1988 : Supercenter đầu tiên được mở tại Washington.
1990 : Walmart trở thành nhà bán lẻ số 1 tại Mỹ.
1991 : bước vào thị trường thế giới lần đầu tiên với việc mở chi nhánh tại Mexico
City.
1993 : Walmart International Division được thành lập với Bobby Martin làm chủ
tịch.
1995 : xây dựng 3 chi nhánh tại Argentina và 5 chi nhánh tại Brazil.
1996 : Walmart xâm nhập thị trường Trung Quốc thông qua thỏa thuận liên doanh.
1997 : Walmart trở thành công ty có số lượng nhân viên lớn nhất tại Mỹ.
1998 : Walmart xâm nhập vào thị trường Hàn Quốc thông qua thỏa thuận liên
doanh.
Sự mở rộng toàn cầu của Walmart Tiểu luận môn: Quản trị kinh doanh quốc tế
MBA-K22-Đêm 3-Nhóm 2 Page 3
1999 : Walmart có 1.140.000 nhân viên, trở thành công ty có số lượng nhân viên
lớn nhất thế giới. Cùng năm, mua lại ASDA Group plc. của Anh (gồm 229 cửa
hàng), mua lại 374 chi nhánh của Interspa tại Đức
2000 : xếp hạng 5 trong danh sách Global Most Admired All-Stars do tạp chí
FORTUNE bình chọn.
2002 : xâm nhập thị trường Nhật qua việc thôn tính lại Seryu, đứng đầu tại
Fortune’s Global 500 và xếp hạng nhất trong danh sách các công ty được yêu thích
nhất tại Mỹ.
2005 : mua lại Sonae’s Brazil operations bao gồm 140 đại siêu thị, siêu thị và đại lý
bán sỉ với kinh phí giao dịch là 764 triệu USD vào tháng 12.
2006 : xâm nhập vào thị trường bán lẻ tại Trung Mỹ qua việc mua lại cổ phần của
nhà bán lẻ khu vực – một nhà bán lẻ Hà Lan tên Royal Ahold có chuỗi cửa hàng tại
Costa Rica, Guatemala, El Salvador, Honduras và Nicaragua.
2007: Walmart.com sử dụng hệ thống “Site to Store”.
2009: Walmart vào Chile bằng cách thôn tính D&S S.A.
2010: xâm nhập thị trường Ấn Độ bằng hình thức liên doanh, cửa hàng mang tên
Bharti Walmart.
2011: với việc mua lại MassMart ở Nam Phi, Walmart nâng tổng số cửa hàng bán lẻ
lên trên 10.000 cửa hàng khắp thế giới.
Ngày nay, Walmart sử dụng hơn 2,2 triệu lao động, có 10.000 cửa hàng tại 27 quốc
gia với hơn 200 triệu khách mua sắm ở các cửa hàng mỗi tuần.
2. Walmart có được lợi ích gì từ việc mở rộng toàn cầu?
Kinh nghiệm
 Lợi ích kinh tế theo quy mô: Walmart có thể tận dụng được hiệu quả
kinh tế theo quy mô nhờ vào quyền lực mua toàn cầu của mình. Các thương gia
khắp nơi trên thế giới tìm đến Walmart để chào hàng, với hy vọng sản phẩm của họ
sẽ có mặt trong chuỗi dây chuyền siêu thị lớn nhất thế giới. Nhiều nhà cung cấp
chính của Walmart là những công ty đa quốc gia như GE (hàng gia dụng), Unilever
(hàng thực phẩm), và P&G (sản phẩm chăm sóc cá nhân). Tất cả đều là những nhà
cung cấp lớn có hoạt động kinh doanh riêng trên toàn cầu.
Sự mở rộng toàn cầu của Walmart Tiểu luận môn: Quản trị kinh doanh quốc tế
MBA-K22-Đêm 3-Nhóm 2 Page 4
Bằng cách tiếp cận thị trường quốc tế, Walmart tận dụng quy mô khổng lồ của
mình để yêu cầu chiết khấu nhiều hơn từ các nhà bán lẻ toàn cầu tại địa phương.
Nhờ vậy làm tăng khả năng đưa ra mức giá thấp cho người tiêu dùng, giành được
thị phần, và thu được nhiều lợi nhuận hơn. Sự kiên định của Walmart trong chuyện
hàng phải “luôn luôn giá thấp” khiến các hãng cung cấp gần như phải tự phát huy
năng lực, phải do dự không dám bàn chuyện tăng giá bán cho Walmart – ngay cả
khi chuyện tăng giá này là hoàn toàn chính đáng. Nhà cung cấp cho Walmart chỉ có
hai lựa chọn: hoặc chấp nhận giá Walmart đưa ra dù họ chỉ được lãi vài xu trên mỗi
sản phẩm, hoặc Walmart sẽ cắt không đặt hàng nữa. Nếu các hãng cung cấp có ý
định đi ngược lại tiêu chí của Walmart, các hãng này sẽ bị đe dọa cắt hợp đồng và
khả năng phá sản là rất cao. Lý do đó là Walmart luôn đặt hàng với số lượng lớn, ổn
định. Nhưng để đảm bảo việc hợp đồng sẽ được ký kết, hãng cung cấp phải đưa
được mức giá thấp nhất. Nắm được điểm yếu đó của các nhà cung cấp, Walmart tìm
cách buộc các nhà cung cấp phải cạnh tranh lẫn nhau, rồi tìm nơi nào hiến giá thấp
nhất.
Nhờ bán hàng giá rẻ, “đế chế” Walmart nở rộ như nấm sau mưa. Đầu năm
1990, Walmart bắt đầu đưa các mặt hàng thực phẩm vào bán chung với các hàng
hóa tiêu dùng khác. Mô hình này đòi hỏi phải có những cửa hàng siêu lớn mà
Walmart gọi là “supercenter” (đại siêu thị), cho phép khách hàng mua mọi thứ họ
cần, từ đồ ăn vặt tới đồ giải trí. Ở nơi nào Walmart đặt chân tới, ở đó có cửa hàng
bán lẻ phải treo biển ngừng hoạt động hoặc co cụm lại.
 Bài học : Cấu trúc chi phí của Walmart tập trung vào việc giảm thiểu
chi phí và tiết kiệm dựa trên quy mô lớn; áp dụng công nghệ thông tin, quản lý kiểu
hiện đại không cần nhiều nhân công, cộng thêm chi phí cho lao động thấp cũng đã
tạo một lợi thế lớn cho Walmart. (Trong ngành bán lẻ thì tiền lương nhân công
chiếm 70% chi phí hoạt động cố định). Walmart cũng nổi tiếng với những phương
pháp chuyển chi phí hoạt động sang phía nhà cung ứng. Thành công của Walmart là
nhờ hãng đã áp dụng triệt để mô hình kinh doanh này vào hoạt động của từng cửa
hàng bán lẻ.
Tính kinh tế của địa điểm
Sự mở rộng toàn cầu của Walmart Tiểu luận môn: Quản trị kinh doanh quốc tế
MBA-K22-Đêm 3-Nhóm 2 Page 5
Trong những thập kỷ đầu tiên hồi mới phát triển, cách mở rộng mạng lưới của
Walmart đơn giản chỉ là nhân bản các cửa hàng giá rẻ ra những địa điểm mới nằm
xa khu vực đắt đỏ. Thời gian đầu cách làm này rất hiệu quả, song sau này Walmart
đã nhiều lần thất bại khi mở rộng mạng lưới ở các quốc gia khác. Khách hàng mỗi
nơi có một tập quán sinh hoạt khác nhau, từ đi lại tới mô hình gia đình và điều đó
ảnh hưởng tới thói quen mua sắm. Các siêu thị của Walmart sau một thời gian khai
trương ở Đức và Hàn Quốc đã bị sa lầy, thua lỗ nặng và phải rút khỏi thị trường vào
năm 2006. Walmart xoay sang cách tiếp cận mới. Thay vì mở các siêu thị đồ sộ, tập
đoàn này lập ra các cửa hàng quy mô nhỏ, giống như các cửa hàng tạp hóa hộ gia
đình. Hàng hóa bán ra được lựa chọn sao cho phù hợp với tập quán tiêu dùng của
địa phương. Chẳng hạn, các cửa hàng ở Trung Quốc bán đồ ăn kiểu Trung Quốc,
cửa hàng ở Brazil bán nhiều đồ của Brazil. Tuy nhiên, toàn bộ khâu quản lý hậu cần
được áp dụng theo mô hình kiểu Mỹ.
Walmart áp dụng cách tiếp cận mới một phần nhờ vào kinh nghiệm rút ra ở
Anh, nơi tập đoàn này mua lại chuỗi siêu thị Asda cách đây 10 năm với giá gần 11
tỷ USD. Dây chuyền siêu thị này khá thành công, song Walmart vẫn chưa hài lòng
vì không mở rộng được nhiều. Vụ mua lại Safeway sau đó của Walmart thì thất bại
hoàn toàn do bị cơ quan chống độc quyền Anh bác bỏ vì quy hoạch phát triển ngặt
nghèo ở Anh không khuyến khích mở siêu thị tràn lan.
Khai thác các ý tưởng kinh doanh tại các nước mà Walmart đang cạnh
tranh.
Cửa hàng hai tầng tại New York xuất hiện nhờ vào sự thành công của chuỗi cửa
hàng nhiều tầng tại Hàn Quốc. Những ý tưởng khác, như là quầy hàng rượu tại cửa
hàng ở Argentina hiện đã có mặt tại nhiều mô hình bán lẻ của công ty trên toàn cầu.
Walmart nhận ra rằng nếu không mở rộng ra quốc tế thì những nhà bán lẻ toàn
cầu khác đã hạ gục nó. Walmart phải đối diện với sự cạnh tranh toàn cầu khốc liệt
từ Carrefour của Pháp, Ahold của Hà Lan, và Tesco của Anh.
Ở những thị trường không cho phép đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành
bán lẻ như Ấn Độ. Luật pháp Ấn Độ không cho phép các tập đoàn bán lẻ lớn bán
hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, nhưng họ có thể kinh doanh hoạt động bán buôn
và cung cấp hàng hóa dịch vụ cho các công ty bán lẻ của Ấn Độ. Do đó Walmart đã
Sự mở rộng toàn cầu của Walmart Tiểu luận môn: Quản trị kinh doanh quốc tế
MBA-K22-Đêm 3-Nhóm 2 Page 6
thâm nhập thị trường bán lẻ Ấn Độ bằng cách ký hợp đồng thành lập liên doanh với
Bharti Enterpries Ltd. – một trong những công ty hoạt động truyền thông, bảo hiểm
và bán lẻ lớn nhất Ấn Độ. Theo đó, liên doanh sẽ thiết lập một hệ thống cửa hàng
bán buôn để cung cấp hàng cho các cửa hàng bán lẻ, các nhà máy và nông trại ở
nước này.
Chuyển giao lợi thế
Và cuối cùng, hoạt động đảo hối thông qua sự chuyển dời các quy trình kinh
doanh sang một nước khác, cụ thể là Trung Quốc, đã giúp Walmart tiết kiệm hơn so
với việc sử dụng lợi nhuận thu được từ các cửa hàng bán lẻ quốc tế vào một dự án
đầu tư lớn hơn. Đây là một phần chủ yếu của chiến lược toàn cầu mà Walmart
hướng tới.
3. Những rủi ro nào mà Walmart gặp phải khi thâm nhập vào các thị
trường bán lẻ khác? Làm thế nào để hạn chế những rủi ro đó?
Sự trỗi dậy của thương mại điện tử
– Walmart gặp khốn khổ tại Trung Quốc bởi thương mại điện tử (TMĐT) phát
triển mạnh, tốc độ tăng trưởng lên tới 40%/năm. Gần đây, Walmart đã mua lại cổ
phần trị giá 500 triệu USD tại công ty bán lẻ trực tuyến 360Buy. Tuy nhiên
Walmart cũng gặp khó ở chỗ nhiều công ty bán lẻ như Dang Dang và Mecoxlane
sẵn sàng không cần lợi nhuận để giành thị phần.
=> Ngày nay, khi công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, TMĐT được ứng
dụng rộng rãi Walmart đã chủ động liên kết với các website và tận dụng hệ thống
bán hàng trực tuyến phát triển. Walmart tăng cường hệ thống TMĐT bằng việc liên
minh với AOL vào năm 2001 để cũng cấp internet đến vùng ngoại ô và nông thông
đặc biệt là những vùng chưa có cửa hàng của Walmart. Mục đích của Walmart là
thu hút những phân đoạn thị trường mới và giảm tác động đối với các cửa hàng hiện
tại. Walmart cũng sử dụng mô hình bán lẻ thích hợp kết hợp giữa TMĐT và truyền
thống. (Mô hình Click-Mortal: Vừa kinh doanh online vừa kinh doanh offline).
Khó khăn của Walmart tại Châu Âu
– Khi bành trướng sang châu Âu thì Walmart gặp nhiều khó khăn vì các luật lệ
thương mại ở lục địa già đặt ra nhiều hạn chế. Chẳng hạn, năm 1997, Walmart bắt
đầu tấn công thị trường Đức, khối tiêu thụ lớn thứ ba trên thế giới sau Mỹ và Nhật
Sự mở rộng toàn cầu của Walmart Tiểu luận môn: Quản trị kinh doanh quốc tế
MBA-K22-Đêm 3-Nhóm 2 Page 7
Bản, bằng cách mua hai công ty bán lẻ Wertkauf và Interspar, nhưng cho tới nay
vẫn không tiến lên được, Walmart chiếm chưa tới 5% thị trường và vẫn bị lỗ.
=> Trước khó khăn ở Đức như vậy, gần đây, công ty Walmart đã thí nghiệm tại
thành phố Dortmund một trò thu hút khách hàng mới, là mở những giờ đi mua sắm
dành riêng cho những khách độc thân!
Chiều thứ sáu, những người độc thân đến cửa hàng Walmart sẽ được mời ăn
bánh, uống rượu vang do công ty khoản đãi, và có một bảng ghi danh với chi tiết về
đời sống, sở thích, số điện thoại để làm quen với nhau. Số người đến mua hàng đã
tăng lên tại 14 cửa hàng thí nghiệm trò này trong số 90 cửa hàng Walmart. Và đã có
30 cặp trở thành bạn tâm tình qua việc mối lái của Walmart.
Hiện tượng trên cho thấy một đặc điểm của công ty Walmart là nắm rõ tâm lý
khách hàng. Walmart cũng tận dụng kỹ thuật tin học để tập trung các dữ liệu về
người tiêu thụ, về khách hàng của chính họ, giúp cho họ làm kế hoạch sát thực tế
hơn. Chính nhờ nhiều yếu tố như vậy, Walmart trở thành tập đoàn bán lẻ số 1 với
chính sách giá rẻ cả 4 thập kỷ nay. Nhưng dù bán theo cách gì, họ vẫn được tin
tưởng sẽ giữ vững vị trí là công ty lớn nhất tại Mỹ và thế giới.
Thiếu sự chú tâm vào yếu tố văn hóa và tâm lý của người tiêu dùng
– Tại Hàn Quốc: Người Hàn Quốc thích mua thức ăn tươi sống nhưng
Walmart chỉ tập trung vào đồ hộp và thức ăn sẵn.
– Tại Nhật Bản: Người Nhật thích mua sắm trong những cửa hàng sạch sẽ,
ngăn nắp, sáng sủa chứ không phải một nơi ảm đạm , quá nhiều hàng hóa xếp chồng
chất như nhà kho cũ kỹ ở Walmart.
Mô hình quản lý
Hầu hết các công ty Mỹ đang thành công tại Nhật Bản như McDonald’s đều
giao cho các lãnh đạo cấp cao lâu năm người Nhật quản lý các chi nhánh, cho phép
họ có “quyền tự trị” ở mức độ nhất định. Nhưng Walmart làm điều ngược lại, giao
quyền quản lý cho một nhóm lãnh đạo người nước ngoài. Văn hóa phương Đông
khác nhiều văn hóa phương Tây và người nước ngoài sẽ ít am hiểu thị hiếu người
tiêu dùng của nước sở tại. Mà “các chi nhánh trên thế giới của Walmart đều được
quản lý theo kiểu tập trung, dưới sự chỉ huy của trụ sở chính tại Mỹ”, chính kiểu
Sự mở rộng toàn cầu của Walmart Tiểu luận môn: Quản trị kinh doanh quốc tế
MBA-K22-Đêm 3-Nhóm 2 Page 8
quản lý này đã khiến Walmart xa rời người tiêu dùng Nhật Bản cũng như Hàn
Quốc.
“Hiệu ứng Walmart”
Khi Walmart bước vào một tỉnh thành, một địa hạt, hay toàn bộ một ngành công
nghiệp, tác động luôn đầy kịch tính. Và tác động ấy luôn là một hỗn hợp giữa tốt và
xấu: tốt cho người tiêu dùng và người mua sắm, nhưng xấu cho những cửa hàng sẵn
có. Tốt cho hiệu quả của các nhà máy và sản xuất, nhưng nguy hiểm cho các hãng
cung cấp nào đã nhường quá nhiều quyền kiểm soát cho Walmart. Đó là “hiệu ứng
Walmart”. Điều này khiến thị trường nơi Walmart có ý định thâm nhập – e ngại, dè
dặt bởi vì họ nhận thức được rằng với sức mua khổng lồ và sự bành trướng,
Walmart là kẻ chuyên “giết chết”thương hiệu khác.
Cơ sở hạ tầng nghèo nàn, đường sá đông đúc, thiếu sự hỗ trợ tài chính với các
nhà cung cấp địa phương. Nhiều nhà cung cấp không thể hoặc sẽ không giao hàng
trực tiếp vào các cửa hàng của Walmart hoặc trung tâm phân phối, đã dẫn đến khó
khăn trong việc dự trữ hàng hóa, vì thế làm tăng chi phí và giá cả.
Sự thất bại trong tạo dựng hình ảnh và định vị thị trường
Walmart đã sai lầm khi quá phụ thuộc vào mô hình các siêu thị bán lẻ lớn đã
giúp công ty này thành công tại Mỹ trong khi đó thực tế người tiêu dùng tại Trung
Quốc chuộng các cửa hàng bán lẻ nhỏ. Walmart đã đi theo “vết xe đổ” của Home
Depot và BestBuy. Cả hai hãng bán lẻ này đã rút khỏi thị trường Trung Quốc. Tỷ lệ
tăng trưởng doanh thu tại Trung Quốc hàng năm của Trung Quốc có thể cao, tuy
nhiên yếu tố giao thông không thuận lợi và thiếu chỗ đỗ xe đồng nghĩa với việc
người tiêu dùng sẽ muốn mua sắm ở gần nhà hơn. Ngoài ra, khi chính phủ Trung
Quốc cấm sử dụng túi nilong, người tiêu dùng phải đi mua hàng nhiều hơn và mỗi
lần mua ít hàng hơn, họ lại càng chuộng các cửa hàng gần nhà. Người tiêu dùng
thường mua sản phẩm nhập khẩu đắt tiền tại các cửa hàng nhỏ do người Trung
Quốc mở ra và đến Walmart để mua hàng giá thấp như kem đánh răng Colgate và
dầu gội đầu Procter and Gamble, bột giặt Tide.
Một người tiêu dùng tại Thượng Hải cho biết: “Tôi mua hoa quả từ cửa hàng
nhỏ bởi nó tươi hơn so với Walmart. Tôi không quan tâm đến việc liệu giá cả có cao
gấp đôi, quan trọng là sản phẩm chất lượng tốt hơn. Hơn nữa, đến Walmart tôi phải
Sự mở rộng toàn cầu của Walmart Tiểu luận môn: Quản trị kinh doanh quốc tế
MBA-K22-Đêm 3-Nhóm 2 Page 9
trả tiền gửi xe.” Việc người tiêu dùng sẵn sàng mua hoa quả giá cao và tránh các
siêu thị bán lẻ không có chỗ đỗ xe miễn phí cho thấy Walmart và nhiều công ty bán
lẻ khác đã không hiểu người tiêu dùng Trung Quốc. Họ sẽ chi tiêu khi họ nhìn thấy
giá trị và họ “căn cơ” với từng chi phí nhỏ như tiền gửi xe.Walmart đã gặp rất nhiều
khó khăn trong việc giúp người tiêu dùng nhận diện được tiêu chí bán hàng và
thương hiệu của hãng. Họ nói đến quan niệm giá thấp thế nhưng lại định vị khá cao
trên thị trường nếu so với các cửa cửa hàng bán lẻ dọc phố thực sự mang đến giá rẻ
cho người tiêu dùng.
Nghiên cứu cho thấy khách hàng tiêu dùng tại Walmart và đóng góp nhiều nhất
cho doanh thu của công ty thường là nhóm khách hàng trung lưu hoặc giàu. Họ
không đến Walmart với suy nghĩ mua hàng giá rẻ mà coi như địa điểm mua hàng an
toàn và chất lượng cao. Họ không thích hình ảnh hàng giá rẻ mà Walmart trưng ra
trong các quầy hàng cũng như cách chọn hàng của công ty này, họ không thích đám
đông chen nhau mua sắm, họ muốn có môi trường mua sắm thoải mái, dễ chịu hơn.
Các hãng bán lẻ nước ngoài sẽ chẳng bao giờ được lựa chọn làm nơi mua hàng
giá rẻ tại Trung Quốc bởi nhóm cửa hàng bán lẻ sẵn sàng hạ giá đến mức tối đa, vì
thế cạnh tranh về giá thực sự là một chiến lược ngu ngốc.
Để hạn chế những rủi ro trên:
Walmart chú tâm vào yếu tố văn hóa và tâm lý của người tiêu dùng để bán được
những hàng hóa phù hợp hơn với sở thích và thị hiếu của người địa phương
Walmart thâm nhập vào thị trường chủ yếu bằng việc mua lại những nhà bán lẻ
hiện hữu và sau đó chuyển giao lại những kinh nghiệm về hệ thống thông tin, hậu
cần và quản lý. Một số quốc gia thì thành lập các cửa hàng riêng.
Tạo mối quan hệ mật thiết của công ty với một công ty vận tải ở thị trường mà
mình muốn xâm nhập để cải thiện hệ thống phân phối, phục vụ tốt hơn cho công ty,
qua đó giúp giảm được lượng hàng tồn kho và chi phí hậu cần.
4. Theo bạn, tại sao Walmart thâm nhập thị trường Mexico đầu tiên bằng
hình thức liên doanh? Tại sao công ty mua lại cổ phần của đối tác Mexico
trong liên doanh vào năm 1998?
Vào năm 1990, Walmart nhận ra rằng cơ hội phát triển của nó ở Mỹ đang trở
nên bị giới hạn hơn, dự đoán vào đầu những năm 2000, các cơ hội phát triển nội địa
Sự mở rộng toàn cầu của Walmart Tiểu luận môn: Quản trị kinh doanh quốc tế
MBA-K22-Đêm 3-Nhóm 2 Page 10
sẽ bị kiềm hãm lại do thị trường đã bão hòa. Vì vậy, công ty đã quyết định mở rộng
hoạt động kinh doanh ra thị trường toàn cầu.
Vào năm 1991, Walmart bắt đầu phát
triển ra thị trường quốc tế với việc khai
trương các cửa hàng đầu tiên ở Mexico.
Walmart xâm nhập vào thị trường ban đầu
bằng hình thức liên doanh với công ty
Cifra, một công ty bán lẻ lớn nhất của
Mexico.
Lúc đầu, Walmart đã phạm phải vài sai lầm do việc rập khuôn hệ thống phân
phối đã từng rất thành công ở thị trường Mỹ vào thị trường Mexico. Cơ sở hạ tầng
nghèo nàn, đường xá đông đúc, và thiếu tác dụng đòn bẩy với các nhà cung ứng
hàng đã gây ra các vấn đề về việc trữ hàng, làm tăng chi phí và giá bán. Trong lúc
các phương thức bán lẻ của nó

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Sự mở rộng toàn cầu của Walmart

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *