[block id=”bo-sung-1″]

Bảo hiểm xã hội (BHXH) xuất hiện trên thế giới từ khá sớm và đã nhanh chóng trở thành công cụ quan trọng của hầu hết các nước trong việc đảm bảo an sinh xã hội. BHXH có vai trò to lớn và quan trọng như thế bởi lẽ đối tượng và phạm vi bao phủ của nó vô cùng rộng lớn, tác động đến hầu hết mọi thành viên trong xã hội.
Ở Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập Nhà nước (1945) BHXH đã được quan tâm thực hiện. Trải qua nhiều thời kì, giai đoạn phát triển đến nay chính sách BHXH đã tương đối hoàn thiện. Cùng với sự phát triển không ngừng của đời sống kinh tế xã hội đất nước thì đối tượng tham gia BHXH cũng ngày càng được mở rộng. Sự phát triển mở rộng không ngừng của đối tượng tham gia đã đặt ra yêu cầu cao hơn cho các cơ quan thực hiện BHXH trong công tác quản lý.
BHXH cấp tỉnh là 1 bộ phận quan trọng trong hệ thống quản lý của BHXH Việt Nam, thực hiện tốt hoạt động ở cấp tỉnh thì mới đảm bảo cho việc thực hiện của cả hệ thống. Đặc biệt trong công tác quản lý đối tượng tham gia, BHXH cấp tỉnh có vai trò rất quan trọng, bởi đây chính là cơ quan trực tiếp quản lý hầu hết các đối tượng tham gia. Chính vì lí do này nên trong quá trình nghiên cứu về QUẢN TRỊ BHXH em đã lựa chọn tìm hiểu đề tài “Thực trạng công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Hà Nam” nhằm hiểu rõ hơn về công tác quản lý của BHXH tỉnh Hà Nam nói riêng và của các BHXH cấp tỉnh nói chung trong hệ thống BHXH Việt Nam qua đó đóng góp một vài ý kiến, giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý BHXH tại tỉnh Hà Nam.
Nội dung đề tài gồm 3 phần chính:
Chương 1: Khái quát chung về quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tại tỉnh Hà Nam.
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tại tỉnh Hà Nam.

de tai thuc trang cong tac quan ly doi tuong tham gia bhxh
doc26 trang | Chia sẻ: tranhieu.10 | Ngày: 24/07/2018 | Lượt xem: 2154 | Lượt tải: 10download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Thực trạng công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Hà Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

SVTH: NGUYỄN THỊ BÌNH MINH
TIỂU LUẬN
MÔN: BẢO HIỂM XÃ HỘI
Đề tài:
“Thực trạng công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Hà Nam”
Hà Nội, ngày 23 tháng 11 năm 2011.
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
3
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
5
I. Cơ sở khoa học của việc quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
5
II. Quản trị đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
7
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHXH TẠI TỈNH HÀ NAM
12
I. Vị trí và chức năng của BHXH tỉnh Hà Nam.
12
II. Thực trạng công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
13
III. Đánh giá công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh.
19
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHXH BẮT BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
22
I. Phương hướng thực hiện công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong giai đoạn mới.
22
II. Một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
22
III. Kiến nghị với Nhà nước và cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
24
KẾT LUẬN
25
TÀI LIỆU THAM KHẢO
26
LỜI NÓI ĐẦU
Bảo hiểm xã hội (BHXH) xuất hiện trên thế giới từ khá sớm và đã nhanh chóng trở thành công cụ quan trọng của hầu hết các nước trong việc đảm bảo an sinh xã hội. BHXH có vai trò to lớn và quan trọng như thế bởi lẽ đối tượng và phạm vi bao phủ của nó vô cùng rộng lớn, tác động đến hầu hết mọi thành viên trong xã hội.
Ở Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập Nhà nước (1945) BHXH đã được quan tâm thực hiện. Trải qua nhiều thời kì, giai đoạn phát triển đến nay chính sách BHXH đã tương đối hoàn thiện. Cùng với sự phát triển không ngừng của đời sống kinh tế xã hội đất nước thì đối tượng tham gia BHXH cũng ngày càng được mở rộng. Sự phát triển mở rộng không ngừng của đối tượng tham gia đã đặt ra yêu cầu cao hơn cho các cơ quan thực hiện BHXH trong công tác quản lý.
BHXH cấp tỉnh là 1 bộ phận quan trọng trong hệ thống quản lý của BHXH Việt Nam, thực hiện tốt hoạt động ở cấp tỉnh thì mới đảm bảo cho việc thực hiện của cả hệ thống. Đặc biệt trong công tác quản lý đối tượng tham gia, BHXH cấp tỉnh có vai trò rất quan trọng, bởi đây chính là cơ quan trực tiếp quản lý hầu hết các đối tượng tham gia. Chính vì lí do này nên trong quá trình nghiên cứu về QUẢN TRỊ BHXH em đã lựa chọn tìm hiểu đề tài “Thực trạng công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Hà Nam” nhằm hiểu rõ hơn về công tác quản lý của BHXH tỉnh Hà Nam nói riêng và của các BHXH cấp tỉnh nói chung trong hệ thống BHXH Việt Nam qua đó đóng góp một vài ý kiến, giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý BHXH tại tỉnh Hà Nam.
Nội dung đề tài gồm 3 phần chính:
Chương 1: Khái quát chung về quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tại tỉnh Hà Nam.
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tại tỉnh Hà Nam.
Em xin chân thành cảm ơn cô Mai Thị Dung đã hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này. Mặt khác, trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài, do còn nhiều hạn chế về thời gian, kiến thức và trình độ nhận thức nên chắc chắn em không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn.
Em xin chân thành cám ơn !!
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG THAM GIA
BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
I. Cơ sở khoa học của việc quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
1. Khái niệm
BHXH đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, BHXH cũng đã trải qua quá trình phát triển vài chục năm. Lịch sử phát triển của BHXH luôn gắn liền với sự hình thành phát triển và hoàn thiện của công tác quản lý quản trị BHXH. Cho đến thời điểm hiện tại thì thuật ngữ quản trị BHXH chủ yếu được hiểu theo hai cách sau:
Nếu coi quản trị BHXH là một hoạt động thì quản BHXH là những hoạt động cần thiết được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong hệ thống tổ chức BHXH, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động.
Hoặc nếu coi quản trị BHXH là mọt hoạt động thì quản trị BHXH là một tiến trình bao gồm việc hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện chính sách, kiểm tra và giám sát các hoạt động trong việc thi chính sách, pháp luật BHXH đã ban hành nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động.
Về cơ bản, quản trị BHXH bao gồm các nội dung sau:
Quản lý đối tượng tham gia và đối tượng hưởng.
Quản lý thu- chi BHXH.
Quản lý chính sách, chế độ BHXH.
Kiểm tra, giám sát tuân thủ pháp luật về BHXH,
2. Sự cần thiết khách quan của quản trị BHXH
Sự ra đời và phát triển của quản trị BHXH luôn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của BHXH, các chính sách chế độ BHXH của mỗi quốc gia muốn thực hiện được thì phải có sự tổ chức và quản lý thống nhất. BHXH là 1 tổ chức rộng với nhiều bộ phận cấu thành. Do đó, muốn hoạt động có hiệu quả thì phải có sự phối hợp, thống nhất hoạt động giữa các bộ phận cá nhân trong toàn bộ hệ thống.
Mặt khác, BHXH cũng giống như tất cả các tổ chức khác phải tồn tại và duy trì hoạt động trong một môi trường kinh tế, chính trị, xã hội luôn biến động. Hơn nữa chính sách pháp luật về BHXH cũng có nhiều sự thay đổi, phù hợp với từng thời kỳ giai đoạn phát triển. Trong điều kiện biến động không ngừng của các môi trường này BHXH muốn hoạt động đuợc thì không thể không thực hiện quản trị.
Cuối cùng, chính đặc trưng của hoạt động BHXH đặt ra yêu cầu khách quan của việc quản trị. Phạm vi bao phủ của BHXH rất rộng lớn, về mặt không gian BHXH được thực hiện trên phạm vi cả một quốc gia, thêm vào đó còn có sự xuất hiện của yếu tố nước ngoài (VD: Người lao động đi lao động, đi học có thời hạn ở nước ngoài, các đại sứ,). Không chỉ thế BHXH còn có ảnh hưởng trong một thời gian rất dài (từ khi con người được sinh ra cho đến khi họ chết đi): sự nối tiếp giữa các thế hệ trong hệ thống BHXH tạo nên sự phức tạp đặc thù trong công việc triển khai các chế độdo đó, quản trị là điều không thể thiếu. Mặt khác, đối tượng tham gia BHXH vô cùng đa dạng. Theo ILO cũng như theo pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới thì mọi người đều có quyền tham gia BHXH, không phân biệt tuổi tác, giới tính, tôn giáo, ngành nghềHơn nữa, mỗi đối tượng tham gia đều có những quy định riêng biệt, mỗi cá nhân tham gia và hưởng tại những thời điểm khác nhau với mức đóng và mức hưởng khác nhau, do đó phải tiến hành quản trị tới từng đối tượng.
3. Quản lý đối tượng tham gia BHXH và vai trò của nó trong công tác quản trị BHXH
Trong toàn bộ hoạt động quản trị BHXH thì quản trị đối tượng tham gia là khâu đầu tiên, cơ bản và có vai trò quan trọng; nó tạo nền tảng cho việc thực hiện các hoạt động quản trị khác trong toàn bộ hệ thống.
Việc quản lý đối tượng tham gia một cách khoa học, chặt chẽ sẽ thực hiện những vai trò cơ bản sau đây:
– Làm cơ sở cho việc tổ chức hoạt động thu BHXH đúng đối tượng, đủ số lượng theo đúng quy định của pháp luật về BHXH đúng thời hạn quy định.
– Là điều kiện để đảm bảo quyền tham gia BHXH của người lao động, của đơn vị sử dụng lao động và của công dân theo đúng quy định của pháp luật về BHXH.
– Góp phần khai thác triệt để đối tượng tham gia BHXH nhằm thực hiện mục tiêu mở rộng phạm vi “che phủ” của BHXH tiến tới thực hiện BHXH cho toàn dân vì sự an sinh và công bằng xã hội theo chủ trương của Nhà nước.
– Làm cơ sở giải quyết quyền hưởng BHXH cho các đối tượng tham gia theo đúng quy dịnh của pháp luật về BHXH.
– Góp phần tích cực vào việc phòng ngừa hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật về BHXH của tổ chức cá nhân có liên quan trong quá trình thực hiện pháp luật về BHXH.
II. Quản trị đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
1. Đối tượng quản lý.
Hiện nay, theo quy định của pháp luật về BHXH các nhóm đối tượng bắt buộc phải tham gia BHXH bao gồm:
Ÿ Người lao động tham gia BHXH bắt buộc quy định tại Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006, bao gồm:
– Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
– Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ 3 tháng trở lên theo quy định của pháp luật về lao động (kể cả cán bộ quản lý), người lao động làm việc trong hợp tác xã, Liên hợp tác xã hưởng tiền công theo hợp lao động từ đủ 3 tháng trở lên.
– Người lao động là công nhân quốc phòng, công nhân công an làm việc trong các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang.
– Người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà chưa nhận bảo hiểm xã hội một lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, bao gồm các loại hợp đồng sau đây:
+ Hợp đồng với tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp được phép hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài dưới hình thức thực tập, nâng cao tay nghề và doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài có đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài;
+ Hợp đồng với doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu, công trình ở nước ngoài;
+ Hợp đồng cá nhân.
Ÿ Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định tại Nghị định này, bao gồm:
– Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang.
– Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước.
– Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và tổ chức xã hội khác.
– Tổ chức, đơn vị hoạt động theo quy định của pháp luật.
– Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
– Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.
– Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Đặc điểm chủ yếu của các nhóm đối tượng này đó là họ có quan hệ lao động tương đối bền chặt, có được hưởng lương và mức lương này là tương đối ổn định và khá đồng đều; trình độ hiểu biết về BHXH cũng như nhu cầu tham gia của các nhóm đối tượng này là phổ biến và khá đồng đều. Do đó pháp luật quy định bắt buộc người lao động, người sử dụng lao động thuộc nhóm đối tượng này phải tham gia BHXH đồng thời cơ quan BHXH có trách nhiệm thực hiện BHXH cho người lao động thuộc nhóm đối tượng này. Việc bắt buộc tham gia BHXH có nghĩa là người lao động, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm khai báo đầy đủ thông tin về bản thân, mức thu nhập.v.v. để làm cơ sở đóng phí BHXH và tính toán xét các điều kiện hưởng chế độ .v.v. Việc quy định tham gia BHXH bắt buộc này nhằm mục đích đảm bảo an sinh và công bằng xã hội, đây cũng là một phần trong quá trình phân phối lại của cải vật chất trong xã hội.
2. Nội dung quản lý.
Nội dung chính của công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm:
– Quản lý danh sách lao động tham gia BHXH bắt buộc trong từng đơn vị sử dụng lao động; danh sách điều chỉnh lao động và mức lương đóng BHXH bắt buộc (trường hợp tăng, giảm lao động và mức đóng BHXH).
– Quản lý mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc, bảng kê khai mức tiền lương tiền công làm căn cứ đóng BHXH do đơn vị sử dụng lao động lập theo quy định của BHXH Việt Nam.
– Quản lý tổng quỹ tiền lương tiền công làm căn cứ đóng BHXH của từng đơn vị tham gia.
– Quản lý mức đóng BHXH của từng đơn vị và từng người tham gia trên cơ sở danh sách tham gia BHXH của từng đơn vị và bảng kê khai mức tiền lương tiền công làm căn cứ đóng BHXH do đơn vị sử dụng lao động lập.
– Cấp, quản lý sổ BHXH cho người tham gia và hàng năm ghi bổ sung vào sổ BHXH theo các tiêu thức ghi trong sổ và theo quy định của pháp luật về BHXH.
3. Công cụ quản lý.
3.1. Pháp lý
Pháp luật là công cụ cơ bản và quan trọng để thực hiện việc quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Hệ thống pháp luật mà các nhà quản trị BHXH có thể dựa vào đó để quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước về lao động và BHXH như: Luật BHXH, Luật lao động, các Nghị Định, Thông tư của Chính phủ và các Bộ ban ngành có liên quan ngoài ra, không thế không kể đến các văn bản hướng dẫn riêng của ngành. Tất cả các quy định này cần được phổ biến cụ thể tới từng cán bộ công nhân viên của BHXH và từ đó tới từng đối tượng tham gia.
Mặt khác, cơ quan BHXH là cơ quan trực tiếp triển khai thực hiện BHXH nhưng lại không có thẩm quyền ra các quy định pháp luật về BHXH. Do đó cơ quan BHXH còn có một nhiệm vụ quan trọng đó là tham mưu, cố vấn cho Chính phủ trong việc điều chỉnh thay đổi các quy định về BHXH sao cho phù hợp với thực tiễn; nghĩa là nhà quản trị BHXH không chỉ trực tiếp sử dụng pháp luật như một công cụ quản lý mà còn gián tiếp tác động để điều chỉnh công cụ này sao cho phù hợp.
3.2. Hệ thống tổ chức
Do đối tượng tham gia đông, đa dạng và phức tạp cho nên việc quản lý đối tượng phải được thông qua cả một hệ thống tổ chức được phân cấp tới từng địa phương, phân công cho từng phòng ban, bộ phận. BHXH Việt Nam hiện nay được phân cấp từ Trung ương đến địa phương, cơ quan cao nhất là BHXH Việt Nam, sau đó là tới BHXH các tỉnh, BHXH các quận, huyện, thành phố. Đối tượng tham gia được các cơ quan này quản lý theo địa bàn hoạt động theo các quy định cụ thể của pháp luật về BHXH.
Đồng thời các phòng ban bộ phận này phải có sự liên quan phối hợp chặt chẽ với nhau và chịu sự quản lý chung thống nhất của một cơ quan chủ quản cao nhất để đảm bảo hiệu quả hoạt động.
3.3. Hồ sơ, thủ tục
Hồ sơ tham gia BHXH là những quy định về các loại văn bản, giấy tờ cần thiết và các thủ tục hành chính mà các đối tượng tham gia BHXH phải thực hiện. Trong đó, quy định rõ hồ sơ và thủ tục đối với từng cá nhân người tham gia và hồ sơ đối với các đơn vị sử dụng lao động. Đây là một công cụ không thể thiếu đối với bất kỳ hệ thống BHXH nào.
Trong quá trình quản trị, các công việc của nhà quản trị liên quan đến hồ sơ của đối tượng tham gia luôn chiếm một khối lượng lớn, theo dõi và quản lý lâu dài.
3.4. Công nghệ thông tin
Khi xã hội phát triển thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản trị BHXH nói chung, quản lý đối tượng tham gia BHXH nói riêng là một việc làm tất yếu. Khi công nghệ thông tin được sử dụng làm công cụ quản lý đối tượng tham gia thì các thủ tục hành chính được cải cách, hiệu quả quản trị được nâng cao.
Công nghệ thông tin trong quản trị BHXH phải đảm bảo tính đồng bộ, hiện đại, các phần mềm phải chuẩn xác, linh hoạt phù hợp với sự thay đổi về chế độ chính sách; đảm bảo kết nối, cập nhật tốt đồng thời có tính bảo mật cao.
3.5. Mối quan hệ với các bên liên quan
Hoạt động của BHXH liên quan đến nhiều cơ quan tổ chức, do đó việc quản trị đối tượng tham gia BHXH đòi hỏi cần có sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa tổ chức BHXH với các cơ quan hữu quan khác. Các cơ quan hữu quan có liên quan tới BHXH thường bao gồm: cơ quan quản lý Nhà nước về BHXH, tổ chức đại diện người lao động, người sử dụng lao động, các ngân hàng, kho bạc, các cơ quan thanh tra BHXH, các cơ quan cấp phép thành lập đơn vị sử dụng lao động hoặc cấp phép hoạt động
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHXH TẠI TỈNH HÀ NAM
I. Vị trí và chức năng của BHXH tỉnh Hà Nam.
BHXH tỉnh Hà Nam là cơ quan trực thuộc BHXH Việt Nam có chức năng giúp Tổng Giám đốc tổ chức thực hiện chế độ chính sách của BHXH trên địa bàn tỉnh Hà Nam theo quy định của pháp luật và quy định của BHXH Việt Nam.
BHXH tỉnh chịu sự quản lý trực tiếp toàn diện của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam và chịu sự quản lý hành chính của Nhà nước của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Nam. BHXH tỉnh Hà Nam có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng.
Hiện nay Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Nam có 9 phòng nghiệp vụ và 5 cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện và 1 cơ quan bảo hiểm cấp thành phố với 208 cán bộ, công chức, viên chức, trong đó: 60% cán bộ là đảng viên; 51% cán bộ nữ; 65% có trình độ đại học 35% có trình độ cao đẳng, trung cấp và tương đương; 5% cán bộ có trình độ cao cấp lý luận chính trị; 9% có trình độ trung cấp lý luận chính trị; 60% có trình độ tin học cơ bản. Tổ chức đảng, đoàn thanh niên cơ quan văn phòng bảo hiểm xã hội tỉnh chịu sự lãnh đạo của Đảng, Đoàn Khối cơ quan Dân Chính Đảng; tổ chức đảng, chi đoàn thanh niên của Bảo hiểm xã hội huyện chịu sự lãnh đạo của Đảng, Đoàn địa phương nơi đặt trụ sở. Tổ chức Công đoàn hoạt động theo mô hình công đoàn cơ sở, hiện nay cơ quan văn phòng bảo hiểm xã hội tỉnh có các tổ công đoàn, các huyện, thành phố có công đoàn bộ phận trực thuộc công đoàn bảo hiểm xã hội tỉnh.
Sơ đồ: Vị trí của BHXH tỉnh Hà Nam trong hệ thống quản lý BHXH.
CHÍNH PHỦ
HỘI ĐỒNG QUẢN LÝ BHXH
BHXH VIỆT NAM
BỘ LĐTB& XH
BHXH TỈNH HÀ NAM
SỞ LĐTB& XH TỈNH HÀ NAM
Ghi chú: Quan hệ trực tiếp ngành dọc; Quan hệ ngành ngang
II. Thực trạng công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
Trong khoảng hơn 1 thập niên trở lên lại đây kinh tế Hà Nam có nhiều bước phát triển đáng ghi nhận. Đặc biệt là từ khi UBND tỉnh chú trọng việc kêu gọi thu hút đầu tư xây dựng nhiều khu công nghiệp quy mô lớn thì số lượng các doanh nghiệp đầu tư vào Hà Nam tăng lên đang kể. Do có nhiều thế mạnh về địa lý, tự nhiên lại có thêm sự định hướng đầu tư của Nhà nước để đưa Hà Nam trở thành trung tâm công nghiệp phía nam đồng bằng sông Hồng nên công nghiệp và dịch vụ ở Hà Nam ngày một phát triển. Điều này có thể được thấy rõ qua số lượng và quy mô các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh được thể hiện qua biểu đồ dưới đây:
Cơ cấu Doanh nghiệp phân theo quy mô số lượng lao động qua các năm
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Đi cùng với sự gia tăng về số lượng và quy mô các doanh nghệp là sự gia tăng không ngừng về số lượng lao động tham gia BHXH trên địa bàn tỉnh:
Số lao động tham gia BHXH bắt buộc
(Nguồn: BHXH tỉnh Hà Nam)
Trong khoảng 4 năm đầu tiên của thế kỷ XXI từ (2000-2004) số lượng lao động tham gia BHXH trên địa bàn tỉnh ở mức tương đối thấp (trung bình mỗi năm chỉ có khoảng 250,000-300,000 lao động) và có dấu hiệu suy giảm qua các năm. Cá biệt, năm 2004 số lao động tham gia BHXH trên địa bàn tỉnh giảm mạnh chỉ còn khoảng 200,000 lao động. Hiện tượng này phản ánh rõ trình độ phát triển kinh tế có phần yếu kém của tỉnh trong năm này, cùng với sự thu hẹp sản xuất của các cơ sở kinh doanh vừa và nhỏ là làn sóng lao động chuyển ra ngoại tỉnh để làm việc, điều này khiến lao động trong tỉnh cũng giảm mạnh. Kể từ năm 2005 trở đi, do làn sóng thu hút đầu tư từ phía ủy ban nhân dân tỉnh, thêm vào đó là quốc lộ việc quốc lộ 10 và 21A đã đi vào hoạt động ổn định tạo điều kiện giao thông thuận lợi nên lực lượng lao động ở các tỉnh lân cận được thu hút về đây làm việc trong các doanh nghiệp. Mặt khác, do sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp- dịch vụ diễn ra nhanh chóng nên số lượng lao động thuộc diện tham gia BHXH trên địa bàn tỉnh đã tăng mạnh. Trong khoảng 5 năm từ 2005- 2010 con số này đã tăng từ 218,411 lên đến 639,115 ( tức là tăng lên 2,93 lần). Tỉ lệ gia tăng số lao động tham gia BHXH bắt buộc hàng năm cũng tương đối nhanh và đều đặn trung bình mỗi năm tăng lên khoảng 15%.
Về mặt cơ cấu, thì số lao động tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh được chia thành 2 nhóm lớn là lao động trong khu vực nhà nước và lao động khu vưc ngoài quốc doanh, hộ kinh doanh cá thể
Bảng 2.1: Mức tăng Liên hoàn giữa khu vực Nhà nước và khu vực Ngoài Nhà nước.
Chỉ Tiêu
Năm
LĐ khu vực Nhà Nước
Mức tăng Liên hoàn (%)
LĐ khu vực Ngoài Nhà nước
Mức tang Liên hoàn (%)
2000
34,900

261,283

2001
36,100
3,44
211,466
-19,06
2002
38,300
6,1
230,720
9,1
2003
39,100
2,09
252,545
9,45
2004
42,800
9,46
275,611
9,13
2005
36,800
-14,01
285,670
3,65
2006
38,200
3,8
334,529
17,13
2007
41,400
8,37
394,929
18,05
20

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Thực trạng công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Hà Nam

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *