[block id=”bo-sung-1″]

Kể từ khi Hiến pháp năm 1992 có hiệu lực thi hành và cho đến nay là Hiến pháp 2013, Quốc hội nước ta đã trải qua 40 kỳ họp tại các khóa IX, X, XI và XII trong đó gần đây nhất là kỳ họp thứ bảy Quốc hội khóa XII. Trong suốt 18 năm qua, kỳ họp Quốc hội đã dần từng bước được nâng cao về chất lượng, thực chất trở thành một hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của Quốc hội. Nhưng không vì vậy mà trong giai đoạn hiện nay, trước những tình hình mới về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Quốc hội và càng đặc biệt hơn là hoạt động của Quốc hội tại kỳ họp không có những bước tiến mới nhằm phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp từ các đại biểu Quốc hội nói riêng và cả Quốc hội nói chung. Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động của kỳ họp Quốc hội là việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

de_tai_thuc_trang_va_giai_phap_nang_cao_hieu_qua_hoat_dong

doc14 trang | Chia sẻ: tranhieu.10 | Ngày: 24/07/2018 | Lượt xem: 383 | Lượt tải: 0download

Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của kỳ họp Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

TIỂU LUẬN
MÔN: TỔ CHỨC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
Đề tài:
“Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của kỳ họp Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”.
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
2
NỘI DUNG
4
1. Khái quát chung về kỳ họp Quốc hội
4
2. Thực trạng hiệu quả hoạt động của kỳ họp Quốc hội hiện nay
5
2.1. Hiệu quả hoạt động của kỳ họp Quốc hội trong giai đoạn hiện nay
5
2.2. Một số tồn tại và nguyên nhân trong hoạt động tại kỳ họp Quốc hội
6
3. Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của kỳ họp Quốc hội trong giai đoạn hiện nay
8
3.1. Giải pháp về việc lập kế hoạch, chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội
8
3.2. Giải pháp về điều hành kỳ họp
9
3.3. Giải pháp về quy trình thảo luận và thông qua các dự án, đề án, báo cáo tại kỳ họp
10
3.4. Giải pháp về chất vấn và trả lời chất vấn
11
3.5. Giải pháp về đại biểu Quốc hội
12
KẾT LUẬN
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
14
LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi Hiến pháp năm 1992 có hiệu lực thi hành và cho đến nay là Hiến pháp 2013, Quốc hội nước ta đã trải qua 40 kỳ họp tại các khóa IX, X, XI và XII trong đó gần đây nhất là kỳ họp thứ bảy Quốc hội khóa XII. Trong suốt 18 năm qua, kỳ họp Quốc hội đã dần từng bước được nâng cao về chất lượng, thực chất trở thành một hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của Quốc hội. Nhưng không vì vậy mà trong giai đoạn hiện nay, trước những tình hình mới về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Quốc hội và càng đặc biệt hơn là hoạt động của Quốc hội tại kỳ họp không có những bước tiến mới nhằm phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp từ các đại biểu Quốc hội nói riêng và cả Quốc hội nói chung. Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động của kỳ họp Quốc hội là việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
NỘI DUNG
1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KỲ HỌP QUỐC HỘI
Kỳ họp Quốc hội là hình thức hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của Quốc hội, nơi biểu hiện trực tiếp và tập trung nhất quyền lực Nhà nước của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, trí tuệ của tập thể đại biểu Quốc hội. Chỉ tại kỳ họp, ba chức năng và mười bốn nhiệm vụ quyền hạn của Quốc Hội được quy định trong Hiến pháp mới được thực hiện rõ nét nhất. Tại kỳ họp, Quốc hội thảo luận dân chủ và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và của nhân dân; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của các cơ quan Nhà nước.
So với hình thức tổ chức hoạt động khác của Quốc hội thì kỳ họp là hình thức hoạt động có ưu thế hơn cả. Chỉ có kỳ họp, Quốc hội mới thông qua được những quyết định chính thức của mình – các văn bản pháp luật, kể cả Hiến pháp đến các nghị quyết khác. Các hình thức hoạt động khác như hoạt động của Hội đồng dân tộc, của các Uỷ ban – chỉ là hình thức trợ giúp, để trên kỳ họp Quốc hội thực hiện một cách chính xác nhiệm vụ quyền hạn của Quốc Hội. Chính trên kỳ họp, quyền lực của Quốc hội được thể hiện một cách đầy đủ nhất, mọi vấn đề quan trọng nhất của đất nước thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội được Hiến pháp quy định tại điều 84, chỉ được Quốc hội thảo luận và chính thức quyết định tại kỳ họp của Quốc hội.
Quốc hội họp thường lệ mỗi năm hai kỳ, một kỳ vào giữa năm và một kỳ vào cuối năm, do Ủy ban thường vụ Quốc hội triệu tập. Trong trường hợp Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu hoặc theo quyết định của mình, Ủy ban thường vụ Quốc hội triệu tập Quốc hội họp bất thường.
Kỳ họp Quốc hội là công khai. Khi Quốc hội họp công khai, công chúng có thể được đến dự theo giấy mời của Văn phòng Quốc hội. Các cơ quan thông tấn, báo chí được tham dự các phiên họp công khai của Quốc hội để phản ánh kịp thời, chính xác các hoạt động tại kỳ họp Quốc hội.
Để bảo đảm cho kỳ họp có hiệu quả thực sự, mọi kỳ họp phải tiến hành theo một trình tự bắt buộc. Trình tự tiến hành các kỳ họp của Quốc hội được quy định một số điểm chính các điều khoản của Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội. Những quy định này được chi tiết hoá trong Nội quy kỳ họp Quốc hội. Tiến trình kỳ họp thường được chia làm ba giai đoạn: Chuẩn bị kỳ họp, thảo luận, và thông qua các dự án. Ngoài trình tự trên, Nội quy kỳ họp có quy định cách thức tiến hành kỳ họp thứ nhất, trình tự tiến hành chất vấn, trả lời chất vấn và trình tự lập pháp.
2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA KỲ HỌP QUỐC HỘI HIỆN NAY
2.1. Hiệu quả hoạt động của kỳ họp Quốc hội trong giai đoạn hiện nay.
Trong các nhiệm kỳ gần đây, công tác chuẩn bị, quy trình tiến hành và công tác điều hành kỳ họp Quốc hội đã có nhiều bước cải tiến. Cụ thể:
Việc chuẩn bị các kỳ họp bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, do nhiều cơ quan đảm nhiệm như xây dựng các dự án trình Quốc hội, điều tra, nghiên cứu, thu thập tình hình thực tế và ý kiến đóng góp của nhân dân về các vấn đề liên quan đến kỳ họp Quốc hội. Việc chuẩn bị kỳ họp thu hút sự tham gia của đông dảo các cơ quan nhà nước, của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội cũng như bản thân mỗi đại biểu Quốc hội. Thể hiện ở trước kỳ họp thứ bảy Quốc hội khoá XII, trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đánh giá của các Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội, các cơ quan hữu quan và tình hình thực tế, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thảo luận và thống nhất dự kiến chương trình kỳ họp trình Quốc hội chủ yếu gồm các vấn đề như: Quốc hội sẽ xem xét thông qua 10 dự án luật và 2 dự thảo nghị quyết, cho ý kiến về 6 dự án luật; nghe báo cáo và thảo luận về chủ trương đầu tư dự án xây dựng đường sắt cao tốc Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh; đồ án quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050; xem xét, quyết định về vấn đề nhân sự của Chính phủ cũng như các cơ quan của Quốc hội
Hơn nữa, nguyên tắc tập thể thảo luận và quyết định theo đa số đã bảo đảm phát huy trí tuệ của các đại biểu, huy động sự đóng góp của các cơ quan hữu quan, của đông đảo cán bộ tham mưu, nghiên cứu và các cán bộ phục vụ. Tại các kỳ họp Quốc hội, không khí thảo luận của các đại biểu đã thực sự sôi nổi, thu hút được sự chú ý của dư luận và trong nhân dân. Những vấn đề được đưa ra thảo luận, xem xét và quyết định tại kỳ họp Quốc hội đã thực sự trở thành hình thức giam sát hữu hiệu của Quốc hội đối với các cơ quan Nhà nước hữu quan. Đặc biệt, trong việc chất vấn và trả lời chất vấn, các đại biểu đã thể hiện rõ vai trò của mình, các nội dung được chất vấn bao quát mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có nhiều vấn đề nóng bỏng, bức xúc liên quan tới trách nhiệm của nhiều cơ quan Nhà nước trong khi đối tượng bị chất vấn đã có sự chuẩn bị nội dung và trả lời nghiêm túc hơn.
Chính những đổi mới đó đã từng bước xác lập nên lề lối, tác phong làm việc dân chủ của Quốc hội tại kỳ họp, tạo nên sự tin cậy trong nhân dân, được nhân dân đồng tình và hoan nghênh.
2.2. Một số tồn tại và nguyên nhân trong hoạt động tại kỳ họp Quốc hội.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng đổi mới phương thức hoạt động, nhưng Quốc hội vẫn chưa thể hoàn thành trọn vẹn các nghị quyết của chính mình đề ra. Trên thực tế, số lượng cũng như chất lượng các dự án trình ra và Quốc hội đã thông qua tại một kỳ họp, nhất là trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI và các kỳ họp vừa qua của Quốc hội khóa XII đã tăng lên đáng kể. Tuy vậy, so với thời gian của một năm và cả nhiệm kỳ hoạt động, công sức, chi phí bỏ ra của rất nhiều chủ thể tham gia vào việc tổ chức, tiến hành kỳ họp thì về mặt này, số lượng văn bản luật, quyết định thông qua tại kỳ họp là chưa nhiều, chưa theo đúng chương trình xây dựng luật đã dự kiến do vậy tại một số kỳ họp phải điều chỉnh chương trình nhiều lần, gây chậm tiến độ tại các kỳ họp. Quy trình thảo luận, thông qua các luật, các nghị quyết của Quốc hội cũng còn có chỗ bất hợp lý cần được tiếp tục cải tiến; một số phiên họp còn vắng khá nhiều đại biểu; việc điều hành kỳ họp vẫn còn có lúc chưa thật khoa học; việc chuẩn bị một số nội dung chưa kịp thời, đặc biệt là chúng ta hầu như chưa thực hiện được việc gửi tài liệu đến đại biểu trước 20 ngày hoặc 10 ngày và do đó đại biểu cũng khó có thể nghiên cứu trước tài liệu.
Không những vậy, trên thực tế đang có sự lẫn lộn giữa chất vấn và đặt câu hỏi để nắm thông tin. Trong nhiều câu hỏi mà đại biểu Quốc hội gửi bằng phiếu qua đoàn thư ký kỳ họp để chuyển tới người bị chất vấn có không ít câu hỏi chưa phù hợp, tính tranh luận chưa cao, mang tính chất chung chung, được nêu ra không phải chấn vấn mà chỉ muốn biết thông tin cụ thể hoặc có những câu quá tập trung vào vấn đề chi tiết mà không nâng lên tầm chính sách, ví dụ: vấn đề nhà công vụ, vấn đề y tế, tham nhũngNgoài ra, việc trả lời chất vấn còn không đi thẳng trực tiếp vào vấn đề, nhất là trách nhiệm của mình mà còn vòng vo, nhiều khi lại liệt kê thành tích của ngành, né tránh trách nhiệm hoặc thanh minh đổ lỗi cho khách quan hay cơ quan khác dẫn đến thiếu thời gian vào phần việc chính của hoạt động chất vấn tại kỳ họp. Trong những trường hợp như vậy, Quốc hội cũng chưa có thái độ nghiêm khắc nhắc nhở người bị chất vấn; hậu quả pháp lý của hoạt động chất vấn chưa được bảo đảm cũng như sự quy kết trách nhiệm chưa trở thành thói quen. Do vậy, mà hiệu quả hoạt động chất vấn nói riêng và hiểu quả hoạt động của kỳ họp Quốc hội đôi lúc kém hiệu quả chưa đi vào chiều sâu.
Sở dĩ có những tồn tại trên là do các nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, các cơ quan chuẩn bị báo cáo, đề án trình ra Quốc hội chưa cung cấp đầy đủ kịp thời các thông tin, tư liệu cần thiết; sự phối hợp giữa cơ quan trình đề án và các cơ quan thẩm tra của Quốc hội có lúc chưa thật chặt chẽ thậm chí tránh né những vấn đề phức tạp nên khi dự thảo được đưa ra trước kỳ họp Quốc hội còn nhiều tồn đọng dẫn đến thời gian tranh luận kéo dài.
Thứ hai, Quốc hội còn thiếu các cơ quan chuyên môn tham mưu về kiểm toán, thẩm định các vấn đề kinh tế, khoa học, công nghệ, môi trường Bộ máy giúp việc hiện nay của Quốc hội chưa đủ mạnh để tham mưu, phục vụ Quốc hội xem xét, quyết định những vấn đề khó khăn, phức tạp, đặc biệt là những vấn đề có tính chuyên sâu.
Thứ ba, một số điều kiện đảm bảo cho việc tổ chức, tiến hành kỳ họp Quốc hội như chế độ cung cấp thông tin, tư liệu phục vụ cho việc xem xét, thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước tuy đã được quy định trong các văn bản pháp luật, nhưng chưa đáp ứng được trên thực tế.
Thứ tư, năng lực, trình độ của một bộ phận đại biểu Quốc hội do cơ cấu chưa đáp ứng được yêu cầu “phản biện” lại những vấn đề quan trọng trình ra kỳ họp Quốc hội xem xét, thông qua. Ngoài ra, cũng phải nói đến trách nhiệm của một số đại biểu Quốc hội chưa cao nên vẫn còn tình trạng một số đại biểu đọc sơ quan thậm chí không ngó gì đến tài liệu trước khi dự kỳ họp Quốc hội.
Thứ năm, các quy định pháp luật về tổ chức, điều hành cũng như hoạt động tại kỳ họp như quy trình về trình tự, thủ tục quyết định tổ chức bộ máy nhà nước, bầu và phê chuẩn các chức danh cấp cao trong bộ máy nhà nước hay quy trình thủ tục thông qua dự án luật còn một số điểm bất cập, nhiều thủ tục chưa phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay.
3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA KỲ HỌP QUỐC HỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. Giải pháp về việc lập kế hoạch, chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội.
Trước hết, tại mỗi kỳ họp Quốc hội cần có sự phân công, phối hợp cụ thể, chu đáo giữa các cơ quan, đơn vị tham gia phục vụ, tổ chức kỳ họp trên cơ sở rà soát chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của từng bộ phận. Theo hướng này, cần phát huy kinh nghiệm lập chương trình làm việc của kỳ họp một cách chi tiết; cân đối thời gian giữa các nội dung thảo luận; có tính đến yêu cầu về mặt thời gian để tiếp thu, xử lý các ý kiến của đại biểu Quốc hội thảo luận về dự án luật, hoàn chỉnh nghị quyết. Với yêu cầu tăng cường sự tham gia của các uỷ ban vào hoạt động của Quốc hội, cũng cần phát huy vai trò của các uỷ ban trong việc gút lại các vấn đề thảo luận; tạo điều kiện cho các ủy ban làm việc cả trong thời gian Quốc hội họp.
Sau đó, cần thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về việc cung cấp kịp thời tài liệu kỳ họp cho các đại biểu Quốc hội. Theo hướng đó, cần tăng thêm thời gian mà các cơ quan có trách nhiệm phải gửi những dự thảo đề án, báo cáo đến các đại biểu Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội để xem xét trước khi khai mạc kỳ họp. Làm được việc này sẽ tạo điều kiện cho việc xem xét kỹ lưỡng những vấn đề mà Quốc hội sẽ thảo luận, quyết định tại kỳ họp.
Ngoài ra, nên tăng cường hơn nữa các điều kiện vật chất, kỹ thuật đảm bảo phục vụ có hiểu quả các kỳ họp Quốc hội như: bảo đảm sự thuận tiện và hiệu quả của các dịch vụ phục vụ kỳ họp như cung cấp thông tin, liên lạc, báo chí, in ấn tài liệu và cả những điều kiện ăn uống, nghỉ ngơi để các đại biểu có thể hoàn thành khối lượng công việc lớn với cường độ cao tại các phiên họp của Quốc hội. Yêu cầu chung đặt ra là các điều kiện làm việc này phải tạo sự thuận tiện, hiệu năng để phục vụ một cách kịp thời, đầy đủ, chu đáo cho hoạt động của Quốc hội tại kỳ họp.
Không những vậy, cũng cần kiện toàn và củng cố đội ngũ cán bộ phục vụ kỳ họp Quốc hội. Theo đó, để công tác phục vụ kỳ họp được tiến hành có hiệu quả hơn, cần thiết phải chuyên nghiệp hóa đội ngũ cán bộ, nhân viên theo hướng chuyên sâu về nghiệp vụ. Do vậy, cần có các hình thức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, nhất là kỹ năng tổng hợp, ghi biên bản và việc xử lý thông tin có nội dung liên quan đến chương trình nghị sự của Quốc hội.
3.2. Giải pháp về điều hành kỳ họp.
Việc điều hành kỳ họp gắn liền với vai trò và trách nhiệm của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Chính cơ quan này xem xét và quyết định trình Quốc hội dự kiến nội dung chương trình làm việc của kỳ họp và cách thức thảo luận, xem xét, quyết định các vấn đề tại kỳ họp. Ở khía cạnh tổ chức, điều hành kỳ họp, nên nghiên cứu, chọn những vấn đề nổi cộm để tập trung thảo luận, đi đến quyết định. Ví dụ, thay cho việc thảo luận chung về tình hình kinh tế – xã hội, ngân sách, cần tập trung thảo luận về những vấn đề ở tầm Quốc hội; thảo luận để đi đến quyết định chứ không chỉ nêu vấn đề; thay việc ban hành một nghị quyết chung về tình hình kinh tế – xã hội bằng những nghị quyết cụ thể về những nội dung cấp thiết mà Quốc hội thấy cần tỏ rõ chính kiến của mình.
Ngoài ra, chủ toạ khi thảo luận thông qua luật cũng cần theo dõi chặt chẽ hơn nữa các ý kiến của đại biểu để yêu cầu các cơ quan chức năng giải trình đầy đủ, tránh tình trạng giải trình không hết các ý kiến, kiến nghị nên nhiều ý kiến phải nói đi nói lại nhiều lần, tốn thêm thời gian.
3.3. Giải pháp về quy trình thảo luận và thông qua các dự án, đề án, báo cáo tại kỳ họp.
Trong thời gian tới, cũng nên nghiên cứu để đổi mới quy trình thảo luật và thông qua các dự án, đề án, báo cáo tại kỳ họp. Theo hướng đó, Quốc hội cần tiến hành xem xét các dự án, đề án, báo cáo qua các bước:
Bước một, xem xét và biểu quyết để thống nhất những vấn đề chung đã được đề cập trong các dự án, đề án, báo cáo. Ở bước này, Quốc hội kiểm tra lại cơ cấu, bố cục về nội dung các vấn đề mà cơ quan có thẩm quyền dự kiến trình ra Quốc hội xem đã đầy đủ, toàn diện theo yêu cầu của Quốc hội chưa? Có cần điều chỉnh, bổ sung những vấn đề gì và yêu cầu soạn thảo lại để trình Quốc hội biểu quyết thông qua. Nói cách khác, bước này là bước để Quốc hội xác định những nội dung trọng tâm và việc thể hiện nội dung đó qua hình thức trình bày chủ yếu trên những khía cạnh then chốt.
Bước hai, Quốc hội lần lượt thảo luận kỹ lưỡng từng vấn đề sau khi đã biểu quyết, thông qua việc điều chỉnh, bổ sung và được Quốc hội cho ý kiến ở bước một. Trong bước này, Quốc hội thảo luận cụ thể và chi tiết những vấn đề được đề cập trong các dự án, đề án, báo cáo cũng như mối liên hệ hữu cơ những vấn đề trong toàn văn dự thảo văn bản, Quốc hội biểu quyết từng vấn đề cụ thể ở bước này. Quốc hội không nên sa vào thảo luận những tiểu tiết, những câu chữ, lối hành văn để tránh lãng phí thời gian.
Bước ba, sau khi đã trải qua quá trình xem xét vừa tổng thể, vừa toàn diện ở bước một và bước hai, Quốc hội biểu quyết thông qua toàn văn văn bản.
Trải qua ba bước như trên, Quốc hội sẽ vừa tiết kiệm thời gian mà vẫn đạt được những hiệu quả trong việc thảo luận và thông qua các dự án, đề án, báo cáo tại kỳ họp.
3.4. Giải pháp về việc chất vấn và trả lời chất vấn.
Trong thời gian tới, cần cải tiến cách thức chất vấn và trả lời chất vấn nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của kỳ họp Quốc hội. Để đổi mới hoạt động này, cần thực hiện một số biện pháp sau:
Thứ nhất, cần có quy định cụ thể về nội dung, thủ tục, trình tự và việc xử lý kết quả hoạt động chất vấn. Trong hoạt động của Quốc hội nước ta, mặc dù vấn đề này đã được quy định ở một số văn bản pháp luật như Luật Tổ chức Quốc hội, Nội quy kỳ họp Quốc hội, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội nhưng chưa cụ thể. Vì vậy, việc chất vấn và trả lời chất vấn chưa thực sự là một hình thức giám sát hữu hiệu tại kỳ họp Quốc hội.
Thứ hai, cần phân biệt giá trị pháp lý giữa chất vấn và câu hỏi thường. Chất vấn là hoạt động của những chủ thể được pháp luật quy định kèm theo các thủ tục cũng như hậu quả pháp lý. Còn câu hỏi thường là nhằm mục đích tìm hiểu thông tin, đáp ứng nhu cầu có tính nhận thức.
Thứ ba, có sự lựa chọn vấn đề trong nội dung các câu chất vấn. Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội khi đặt câu hỏi chất vấn cần xác định cụ thể nội dung và nhằm đúng đối tượng cần chất vấn. Đoàn thư ký kỳ họp cần xác định những vấn đề nổi cộm, được đông đảo nhân dân quan tâm để đề nghị Đoàn chủ tịch đưa ra những nội dung cần thiết vào chương trình chất vấn và trả lời chất vấn.
Thứ tư, về phía những người bị chất vấn, cần nhận thức đầy đủ về mục đích và yêu cầu của chất vấn, trả lời chất vấn và phải coi đây là hoạt động tích cực, để thông qua đó, công việc quản lý, điều hành của mình được chấn chỉnh cho tương xứng với nhiệm vụ. Vì vậy, những người bị chất vấn cần chuẩn bị kỹ nội dung liên quan đến các câu hỏi được nêu ra, chủ động ứng phóc với những câu hỏi phát sinh từ câu hỏi chính. Việc trả lời phải nhằm trúng vấn đề, không sa vào giải trình lan man dễ dẫn đến sai lệch chủ đề chất vấn.
Thứ năm và cũng là điều quan trọng hơn cả là vấn đề hiệu lực của chất vấn. Từ trước đến nay, việc chất vấn và trả lời chất vấn chưa đặt vấn đề xử lý những chất vấn đúng hay sai, bản chất sự việc và trách nhiệm của người bị chất vấn với tư cách là thủ trưởng của một cơ quan Nhà nước. Để nâng cao hiệu lực của hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn cần thiết phải xác định cụ thể bằng các quy định của Luật Tổ chức Quốc hội hoặc Nội quy kỳ họp Quốc hội về vấn đề này.
3.5. Giải pháp về đại biểu Quốc hội.
Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tại các kỳ họp Quốc hội, các quy định của pháp luật nên được sửa đổi, bổ sung theo hướng tạo được sự tham gia hơn nữa của các đại biểu Quốc hội đặc biệt là các đại biểu Quốc hội chuyên trách.
Không những vậy, phải luôn không ngừng nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu phải có chất lượng, có “tâm”, có “tầm”, có trách nhiệm trước Quốc hội, trước nhân dân, phải đảm bảo cho mỗi đại biểu đủ điều kiện để hoàn thành được nhiệm vụ, quyền hạn của mình tại kỳ họp. Mặt khác, các đại biểu Quốc hội cũng phải tự mình hoàn thiện qua học tập, bồi dưỡng kiến thức; qua môi trường thực tế mà rèn luyện năng lực bản thân và kỹ năng đại biểu. Có như vậy thì hoạt động tại kỳ họp mới ngày càng được nâng cao.
KẾT LUẬN
Kỳ họp Quốc hội là hoạt động chủ yếu của Quốc hội, có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt để thông qua đó Quốc hội xem xét, thảo luận và ban hành các quyết định ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của Nhà nước, quyền và nghĩa vụ của mỗi người dân. Kết quả của kỳ họp Quốc hội là biểu hiện rõ nhất quá trình chuẩn bị, tổ chức và tiến hành kỳ họp, trong đó, có sự tham gia của nhiều chủ thể ở trong và ngoài Quốc hội, trong đó, các đại biểu và cơ quan Quốc hội là những chủ thể quan trọng nhất.
Nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của Quốc hội, trước hết, chính là tăng cường tính chuyên trách, chuyên nghiệp của các chủ thể này. Việc cải tiến quy trình, thủ tục tổ chức, tiến hành kỳ họp Quốc hội sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của kỳ họp và cả Quốc hội nói chung. Vì thế, từ việc trao đổi, xác định những nội dung cần cải tiến về kỳ họp Quốc hội, bước tiếp theo rất quan trọng

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của kỳ họp Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *