[block id=”bo-sung-1″]

Từ nửa sau thế kỷ XVIII, công nghiệp hoá với tư cách là một phương thức phát triển bắt đầu xuất hiện trên thế giới và ngày càng phổ biến. Tính từ giữa thập kỷ 90 ta có thể thấy công nghiệp hoá được coi như một nấc thang tất yếu mà bất cứ một nước chậm phát triển nào muốn phát triển cũng phải đi qua.Việt Nam – một nước nông nghiệp kém phát triển cũng không nằm ngoài quy luật đó. Tuy ngày nay Việt Nam đã vươn vai trở thành một đất nước giàu mạnh hơn. Nông thôn Việt Nam đã đổi mới, đẩy nhanh CNH-HĐH, phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm thu hút nhiều lao động nông thôn, đưa nhanh tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đạt mức tiên tiến trong khu vực về trình độ công nghệ và thu nhập trên một đơn vị diện tích, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của các sản phẩm.
Như vậy, nông thôn Việt Nam đang hoà mình vào sự nghiệp đổi mới và CNH-HĐH của đất nước. Song muốn CNH-HĐH nông thôn thì một trong những yếu tố quyết định là nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực phát triển mạnh mẽ về số lượng cũng như chất lượng thì mới có thể CNH-HĐH nông thôn được. CNH-HĐH tuy là phương thức chung đối với các nước nhưng trên thực tế thời điểm xuất phát cũng như phương thức tiến hành ở từng nước lại không giống nhau. Tuy vậy vượt qua nấc thang ấy hầu như quốc gia nào cũng coi quá trình phát triển nguồn nhân lực như là một yếu tố có tính tiên quyết để từ một nước có nền kinh tế yếu kém trở thành một nước giàu có.
Từ sự nhận thức về vai trò hết sức quan trọng của nguồn nhân lực nói chung và của nguồn nhân lực nông thôn nói riêng trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá của đất nước, em chọn đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực nông thôn phục vụ CNH-HĐH đất nước” cho bài tiểu luận này của mình.

de tai thuc trang va mot so giai phap phat trien nguon nhan luc nong thon
docx30 trang | Chia sẻ: tranhieu.10 | Ngày: 24/07/2018 | Lượt xem: 419 | Lượt tải: 5download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Thực trạng và một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực nông thôn phục vụ CNH – HĐH hoá đất nước, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

KHOA KINH TẾ – QUẢN TRỊ
BỘ MÔN QUẢN TRỊ
—***—
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: NGUỒN NHÂN LỰC
Đề tài:
Thực trạng và một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực nông thôn phục vụ CNH-HĐH hoá đất nước.
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 4
1.1. Khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực 4
1.2. Nội dung phát triển nguồn nhân lực 7
1.3. Các nhân tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực 9
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CNH-HĐH Ở VIỆT NAM 11
2.1. Những đặc điểm của nông thôn Việt Nam ảnh hưởng đến quá trình phát triển nguồn nhân lực 11
2.2. Phân tích thực trạng nông nghiệp nông thôn nước ta trước khi bước vào thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá 12
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CNH-HĐH Ở VIỆT NAM 19
3.1. Định hướng phát triển kinh tế xã hội nước ta những năm tới 19
3.2. Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực nông thôn phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH ở nước ta 20
KẾT LUẬN 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
LỜI NÓI ĐẦU
Từ nửa sau thế kỷ XVIII, công nghiệp hoá với tư cách là một phương thức phát triển bắt đầu xuất hiện trên thế giới và ngày càng phổ biến. Tính từ giữa thập kỷ 90 ta có thể thấy công nghiệp hoá được coi như một nấc thang tất yếu mà bất cứ một nước chậm phát triển nào muốn phát triển cũng phải đi qua.Việt Nam – một nước nông nghiệp kém phát triển cũng không nằm ngoài quy luật đó. Tuy ngày nay Việt Nam đã vươn vai trở thành một đất nước giàu mạnh hơn. Nông thôn Việt Nam đã đổi mới, đẩy nhanh CNH-HĐH, phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm thu hút nhiều lao động nông thôn, đưa nhanh tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đạt mức tiên tiến trong khu vực về trình độ công nghệ và thu nhập trên một đơn vị diện tích, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của các sản phẩm.
Như vậy, nông thôn Việt Nam đang hoà mình vào sự nghiệp đổi mới và CNH-HĐH của đất nước. Song muốn CNH-HĐH nông thôn thì một trong những yếu tố quyết định là nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực phát triển mạnh mẽ về số lượng cũng như chất lượng thì mới có thể CNH-HĐH nông thôn được. CNH-HĐH tuy là phương thức chung đối với các nước nhưng trên thực tế thời điểm xuất phát cũng như phương thức tiến hành ở từng nước lại không giống nhau. Tuy vậy vượt qua nấc thang ấy hầu như quốc gia nào cũng coi quá trình phát triển nguồn nhân lực như là một yếu tố có tính tiên quyết để từ một nước có nền kinh tế yếu kém trở thành một nước giàu có.
Từ sự nhận thức về vai trò hết sức quan trọng của nguồn nhân lực nói chung và của nguồn nhân lực nông thôn nói riêng trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá của đất nước, em chọn đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực nông thôn phục vụ CNH-HĐH đất nước” cho bài tiểu luận này của mình.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
1.1. Khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực có quan hệ chặt chẽ với dân số, đó là một bộ phận quan trọng của dân số, đóng vai trò tạo ra của cải vật chất và văn hoá cho xã hội.
Ø Theo từ điển thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Liên Xô thì: “Nguồn nhân lực là toàn bộ những người lao động dưới dạng tích cực (đang tham gia lao động) và tiềm tàng (những người có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động”.
Ø Theo từ điển thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Pháp thì: “Nguồn nhân lực có phạm vi hẹp hơn. Nó không bao gồm những người có khả năng lao động nhưng không có nhu cầu làm việc”.
Ø Theo giáo trình môn Kinh tế lao động của trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì: “Nguồn nhân lực nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh. Trước hết là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội bao gồm toàn bộ dân cư phát triển bình thường (không bị khiếm khuyết hoặc bị dị tật bẩm sinh)”.
Nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế – xã hội là khả năng lao động được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động.
Các cách hiểu khác nhau về viẹc xác định quy mô nguồn nhân lực,song đều nhất trí nguòn nhân lực nói nên khả năng lao động của xã hội.
1.1.2. Phân loại nguồn nhân lực
a- Căn cứ vào nguồn gốc hình thành người ta chia nguồn nhân lực thành 3 loại sau:
+) Nguồn nhân lực có sẵn trong dân số: bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có làm việc hay khong làm việc. Khái niệm này còn gọi là dân số hoạt động (theo Luật Lao động Việt Nam thì bộ phận dân số này bao gồm những người từ 15-60 đối với nam, từ 15-55 đối với nữ) nguồn nhân lực này chiếm một tỷ lệ tương đối lớn thường lớn hơn 50%.
+) Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế): Bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế – văn hoá -xã hội.
+) Nguồn nhân lực dự trữ: bao gồm những người nằm trong độ tuổi lao động nhưng vì lý do nào đó chưa tham gia hoạt động kinh tế. Số người này đóng vai trò như một nguồn dự trữ về nhân lực. Họ bao gồm những người làm công việc nội trợ, những người dang đi học phổ thông trung học…
b- Căn cứ vào vai trò của bộ phận nguồn nhân lực người ta chia nguồn nhân lực thành 3 loại sau:
+) Nguồn nhân lực chính: gồm những người nằm trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
+) Nguồn nhân lực phụ: gồm những người nằm ngoài độ tuổi lao động (trên hoặc dưới độ tuổi lao động) có thể cần và tham gia vào lực lượng sản xuất.
+) Nguồn nhân lực bổ sung.
c- Căn cứ vào trạng thái có làm việc hay không.
+) Lực lượng lao động: gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động dang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm.
+) Nguồn lao động: bao gồm những người thuộc lực lượng lao dộng và những người và những người thât nghiệp nhưng không có nhu cầu tìm việc.
Như vậy,với bất kỳ quốc gia nào thì nguồn nhân lực cũng là một bộ phận quan trọng của dân số. Nó vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển kinh tế xã hội.
Giữa nguồn nhân lực và kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ chịu sự tác dọng lẫn nhau. Những nước chậm phát triển có tốc độ phát triển nguồn nhân lực cao hơn cả, đây chính là một thách thức lớn đối với những nước này trong quá trình phát triển đặc biệt là trong giai đoạn đầu.
Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trình độ phát triển của quốc gia đó. Khi một quốc gia có nguồn nhân lực có chất lượng cao thì quốc gia đó có nền kinh tế xã hội phát triển.Ngược lại khi một quốc gia có chất lượng đội ngũ lao động ở mức thấp thì nền kinh tế xã hội không thể phát triển cao.
1.1.3. Vai trò của nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá ở nước ta.
a- Phát triển nguồn nhân lực nông thôn sẽ tận dụng được tối đa nguồn lao động dồi dào và ngày một gia tăng, phát huy vai trò tiềm năng con người ở nông thôn.
Thực tiễn trong những năm qua cho thấy bất cứ đâu, khi nào các địa phương có biện pháp tích cực tận dụng nguồn nhân lực dư thừa ở nông thôn vào sản xuất như mở mang nghành nghề, dịch vụ, đầu tư cho thâm canh… thì GDP sẽ tăng nên, nền kinh tế sẽ phát triển và đời sống của nhân dân ở địa phương đó được nâng nên một bước, bộ mặt nông thôn không ngừng đổi mới.
b- Phát triển nguồn nhân lực nông thôn sẽ khai thác được tối đa các nguồn lực quan trọng còn tiềm ẩn trong khu vực kinh tế nông thôn.
Nông thôn nước ta còn rất nhiều tiềm năng như khoáng sản, đất đai,rừng, ngành nghề truyền thống. .Phát huy nguồn nhân lực nông thôn là nhân tố quyết định để biến những tiềm năng ấy thành hiện thực.
c- Phát triển nguồn nhân lực nông thôn sẽ thúc đẩy phát triển nông nghiệp và thực hiện được vấn đề cơ bản của nông thôn, nông nghiệp là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH-HĐH.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH-HĐH là quá trình chuyển đổi hẳn cơ cấu kinh tế nông thôn từ độc canh cây lúa đơn ngành sang đa ngành. Đó là quá trình biến đổi từ kiểu kinh tế nông nghiệp thủ công nghiệp sang kiểu kinh tế công nghiệp và dịch vụ, làm cho tỷ trọng nông nghiệp trong GDP ngày càng giảm và nâng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP.
Việc phân công lại lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó con người giữ vai trò quyết định phát triển nguồn nhân lực nông thôn là cơ sở điều kiện để phân bố lại cơ cấu nguồn nhân lực.
d- Phát triển nguồn nhân lực nông thôn sẽ thúc đẩy quá trình phân công và hợp tác lao động ngày càng tốt hơn với quy mô ngày càng lớn.
Sự phân công và hợp tác lao đông sẽ mang lại năng suất lao động cao hơn là một đặc trưng ưu việt của sản xuất lớn so với sản xuất nhỏ. Hơn nữa nó còn thúc đẩy nhanh quá trình chuyên môn hoá, hợp tác hoá lao động ở trình độ cao, nó còn là điều kiện để nâng cao trình độ mọi mặt của người lao động.
e- Sử dụng hợp lý và phát triển nguồn nhân lực nông thôn sẽ giải quyết được vấn đề bức xúc của chính sách xã hội ở nông thôn hiện nay.
Ở nông thôn hiện nay do năng suất lao động thấp, diện tích đất canh tác ngày càng giảm do nhiều nguyên nhân: điều kiện cơ sở hạ tầng thấp, đời sống dân cư nông thôn và nông dan còn thấp so với thành thị, tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm vẫn tiềm tàng ở nông thôn, dẫn đến một khối lượng lớn người dân nông thôn di chuyển ra các vùng đô thị để tìm việc làm, gây sức ép lớn cho khu vực đô thị, làm nảy sinh nhiều tiêu cực xã hội. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực nông thôn, phát triển toàn diện nền kinh tế nông thôn không chỉ là vấn đề trọng tâm của chién lược phát triển kinh tế mà còn là giải pháp kinh tế – xã hội đem lại sự thay đổi cho số đông dân cư để thu hút họ vào sản xuất nong nghiịep hàng hoá, công nghiệp, dịch vụ nhằm xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
1.2. Nội dung phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực xem xét trên giác độ phát triển số lượng và chất lượng nguồn nhân lực. Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: trình độ sức khoẻ trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất…
1.2.1. Số lượng nguồn nhân lực
Quy mô nguồn nhân lực phản ánh quy mô dân số, phát triển nguồn nhân lực cũng có nghĩa là làm tăng số lượng nguồn nhân lực một cách phù hợp.Một nguồn nhân lực, dồi dào thể hiện một dân số quy mô lớn và cơ cấu trẻ. Là tiềm năng to lớn cho sự phát thiển kinh tế – xã hội. Về mặt số lượng cần xem xét mối quan hệ nguồn nhân lực với cá nhân tố sau: Tình hình dân số, tốc độ tăng của dân số, cơ cấu dân số… Khi công nghiệp và dịch vụ, các thành phố nước ta chưa phát triển, một tỷ lệ lớn về dân số lao động còn nằm ở nông thôn thì sự di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị trong cơ ché thị trường sẽ là tất yếu trong quá trình CNH-HĐH.
1.2.2. Chất lượng nguồn nhân lực.
Phân tích về sự phát triển nguồn nhân lực, trước hết cần xem xét trình độ dân trí, trình độ học vấn của dân số nói chung và của lực lượng lao động, cơ cấu trình độ chuyên môn nghiệp vụ của dân cư, lao động theo nhóm tuổi khu vực, vùng. Và khi xem xét nguồn nhân lực cần xem xét khả năng đáp ứng nhu cầu cho quá trình CNH-HĐH.
Hiện nay liên hợp quốc dã đưa ra cách tính (HDI) “chỉ số phát triển con người “ nhằm phản ánh trình độ phát triển của các nước. Đây là khái niệm tổng hợp bao gồm nhiều mặt: kinh tế, xã hội,chính trị, môi trường đồng thời thể hiện sự phân phối công bằng thành quả của sự phát triển. Chỉ số này liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người lao động và đến mặt thể lực của người lao động… quan hệ giữa chỉ số này và dân số là để tăng được chỉ tiêu GDP trên đầu người thì tổng sản phẩm quốc nội phải tăng nhanh hơn tỷ lệ gia tăng dân số; hoặc việc hạ thấp tỷ lệ tăng dân số.
Để xem xét chất lượng nguồn nhân lực ta cần xem xét các mối quan hệ sau:
+) Nguồn nhân lực và chỉ số trình độ dân trí
Đây là chỉ tiêu phản ánh và liên quan trực tiếp đến mặt trí lực của nguồn nhân lực chỉ tiêu này được tính thông qua hai chỉ tiêu: tỷ lệ người biết chữ và số năm đi học bình quân.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có thể đạt được nhờ hệ thống giáo dục đào tạo đáp ứng yêu câù về số lượng và chất lượng và cơ cấu trình độ hợp lý.
+) Nguồn nhân lực và chỉ số về tuổi thọ bình quân.
Chỉ tiêu tuổi thọ bình quân chịu sự ảnh hưởng của các chỉ số liên quan đến vấn đề sức khoẻ, y tế, dịch vụ,vệ sinh như:số người được phục vụ/một thầy thuốc, tình hình cung cấp nước sạch, khả năng sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ… Mối quan hệ giữa dân số, nguồn nhân lực và các điều kiện y tế, vệ sinh có tính chất tương hỗ: y tế tác động đến toàn bộ quá trình sản xuất dân số; mặt khác sự bùng nổ dân số đang gây sức ép đối với ngành y tế.
Tóm lại, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực phản ánh sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Khi một quốc gia có nguồn nhân lực có chất lượng cao thì quốc gia đó có nền kinh tế xã hội phát triển. Ngược lại, khi chất lượng đội ngũ nhân lực ở mức thấp thì nền kinh tế xã hội không thể phát triển cao.
Lịch sử các nền kinh tế thế giới cho thấy khôngcó một nước giàu có nào đạt được tỷ tăng trưởng kinh tế cao trước khi đạt được mức phổ cập phổ thông. Các nước công nghiệp hoá mới thành công nhất như: Singapore, Hồng Kong… có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong những năm thập kỷ 70 và 80 thường đạt phổ cập tiểu học trước khi các nền kinh tế đó cất cánh. Ngoài đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực còn cần có chính sách giáo dục đào tạo hợp lý.
1.3. Các nhân tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực theo hướng CNH-HĐH
1.3.1. Đường lối CNH-HĐH của Đảng
Công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta hiện nay dòi hỏi phải tiếp thu có hiệu quả những tri thức hiện đại của thế giới. Đồng thời phát huy sức mạnh nội sinh dân tộc, phát huy được mọi tiềm năng của đất nước… nhằm bảo đảm cho nền kinh tế nước ta phát triển cân đối và vững chắc, từng bước giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh.
1.3.2. Thực trạng tình hình kinh tế xã hội.
Thực trạng tình hình kinh tế xã hội và tình hình nguồn nhân lực giúp cho việc nắm được những thông số về tình hình thực tế, nhằm đảm bảo tính khoa học cho quy hoạch nguồn nhân lực, từ đó phát triển nguồn nhân lực một cách toàn diện.
1.3.3. Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của vùng, điạ phương.
Quá trình phát triển nguồn nhân lực phải căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế xã họi của dịa phương, vùng vì nguồn nhân lực là một yếu tố sản xuất của nền kinh tế. Hơn nữa đây cũng là cơ sở để quá trình phát triển nguồn nhân lực bảo đảm tính khoa học, tính khoa học của nó.
1.3.4. Quan hệ cung cầu về lao động
Hình thành một thị trường lao động là quá trình tất yếu đi liền với nền kinh tế thị trường. Muốn phát triển nguồn nhân lực cần thấy được xu hướng phát triển của quá trình này, nghiên cứu nắm bắt nắm bắt được những biến động của quan hệ cung cầu về lao động phục vụ kịp thời nhu cầu phát triển của vùng. đặc điểm của lao động chung của cả nước là dồi dào nhưng lao động có kỹ thuật thì nghèo nàn vì vậy đây là yếu tố quá trình khi tính toán quan hệ cung cầu về lao động.
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ – HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM
2.1. Những đặc điểm của nông thôn Việt Nam ảnh hưởng đến quá trình phát triển nguồn nhân lực.
Nông thôn Việt nam bao gồm một vùng rộng lớn và trải dài ba miền bắc -trung – nam. Vùng có tỷ lệ dân số nông thôn lớn nhất là vùng bắc trung bộ (89,2%), tiếp đến là miền núi trung du bắc bộ (85,7%)…và thấp nhất là đông nam bộ (51,6%) Hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp chiếm 35% trong tổng sản phẩm quốc nội của cả nước và thu hút 72% lực lượng lao động nông thôn, giá trị sản lượng chiếm 75,7% tổng sản lượng (chủ yếu là cây lương thực). Sản lượng lương thực chủ yếu là lúa. Ngoài cây lúa, cây công nghiệp, có: cao su, cà phê,chè… tiềm năng về nông nghiệp cũng rất lớn. Trong tổng số 9 triệu ha đất rừng có khoảng 6 triệu ha được coi là có giá trị thương mại.
Với những đặc điểm thuận lợi cơ bản ở trên thì nông thôn nước ta còn những vấn đề nổi lên như sau: mức tích luỹ và đầu tư còn rất thấp, cơ sở hạ tầng cơ bản chưa tương xứng với yêu cầu và tiềm năng phát triển, hệ thống y tế đang xuống cấp nhanh chóng, chất lượng phục vụ y tế giảm sút rõ rệt. Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em ngày càng tăng. Hệ thống giáo dục ở nông thôn cũng kém phát triển và còn nhiều bất cập. Trung bình hàng năm có khoảng 10% số học sinh bỏ học,trong đó có hơn 50% là do kinh tế gia đình khó khăn. Hiện tượng mù chữ và tái mù chữ trở lên khá phổ biến.
Nhà nước chưa có chính sách giáo dục phù hợp với mức sống của dân cư nông thôn, kinh phí của nhà nước cho giáo dục, đào tạo còn eo hẹp và phân tán.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến trình độ học vấn của nguồn nhân lực trong khu vực nông thôn thấp ngoài lý do kể trên còn có một lý do nữa là do tư tưởng của người nông dân, họ thường quan niệm rằng học chẳng để làm gì vì trước sau cũng quay về với nghề nông thuần tuý.
Như vậy có thể thấy nông thôn việt nam đang tồn tại rất nhiều yếu kém, làm cản trở và giật lùi quá trình CNH-HĐH ở nước ta. Muốn phát triển nông thôn, CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn việc trước tiên phải làm là giải phóng và phát triển nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực nông thôn tức là sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, làm đòn bẩy để phát triển kinh tế xã hội nông thôn.
2.2. Phân tích thực trạng nông nghiệp nông thôn nước ta khi bước vào thời kỳ CNH-HĐH.
Nông thôn nước ta chiếm khoảng 80% dân số, 72% nguồn lao động xã hội. Tuy nhiên tổng chỉ tiêu kinh tế – văn hoá – xã hội (bình quân GDP/đầu người, số calo hấp thụ bình quân ngày/người,tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng…) thì sự phát triển của nông thôn nước ta chậm hơn gấp nhiều lần các quốc gia châu Á.
Hiện nay khả năng mở rộng diện tích đát nông nghiệp rất có hạn. Tỷ lệ tăng dan số còn khá cao tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn chiếm tới 35% tổng quỹ thời gian lao động. Lao động thừa nhưng tốc độ giải phóng lao động ở khu vực này rất chậm do các ngành công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển.
2.2.1. Nguồn nhân lực nông thôn chiếm tỷ trọng lớn và tăng nhanh.
Theo tạp chí con số sự kiện tháng 12 năm 2001 thì dân số nước ta có 78,7 triệu người, tăng 1 triệu so với năm 2000, trong đó dân thành thị là 19,2,triệu người,chiếm khoảng24,4%; nông thôn là 59,5 triệu người, chiếm 75,6%. Dân số thành thị già hơn dân số nông thôn :tỷ lệnhân khẩu dưới tuổi lap động ở khu vực thành thị là 24,4%, trong khi đó tỷ lệ này ở nông thôn là 30,35%.
Sự dư thừa lao động ở nông thôn hiện hay đang là vấn đề bức xúc. Việt Nam là nước đông dân thứ hai ở khu vực Đông Nam Á, với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 1,7%, nó đặt ra một loạt vấn đề cần được giải quyết trong đó có vấn đề đào tạo nguồn nhân lực nếu chúng ta có chính sách đào tạo nguồn nhân lực này một cách hợp lý thì đây sẽ là một nhân tố thúc đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH ở nông thôn nói riêng và cả nước nói chung. Ngược lại nếu chúng ta không có chính sách đào tạo và sử dụng đây sẽ là một thách thức lớn cho toàn xã hội.
Bình quân mỗi năm lực lượng lao động xã hội tăng lên 1,2 triệu người. Lao động xã hội tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn.ân số nông thôn chiếm trung bình gần 70% dân số cả nước, trong đó dân số trong độ tuổi lao động ở nông thôn chiếm 56% dân số nông thôn. Như vậy nếu so sánh với các năm trước đó thì cơ cấu lao động xã hội nông thôn đã có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ, lao động trong nông nghiệp giảm lao động trong công nghiệp và xây dựng, ngành dịch vụ ngày càng tăng. Từ đó dẫn đến năng suất của một số ít các sản phẩm nông nghiệp ở nước ta đang ở mức khá trong khu vực (lúa 4,25 tấn/ha; cà phê 1,35 tấn/ha;cao su 1,1-1,2 tấn /ha…)
2.2.2. Nguồn nhân lực nông thôn phân bố không đều giữa các ngành và các vùng.
Sau hơn 15 năm tiến hành đổi mới, sản xuất nông nghiệp có bướ

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Thực trạng và một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực nông thôn phục vụ CNH – HĐH hoá đất nước

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *