[block id=”bo-sung-1″]

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế có tư
cách pháp nhân được tổ chức ra để hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực nhất
định với mục đích công ích ho ặc thu lợi nhuận. Thông thường cần có 3 điều kiện
sau để được công nhận là một doanh nghiệp :
– Có tư cách pháp nhân đầy đủ ( doanh nghiệp được Nhà nước thành lập, công
nhận hay cho phép hoạt động ) .
– Có vốn pháp định dể kinh doanh.
– Có tên gọi và hoạt động với danh nghĩa riêng, chịu trách nhiệm độc lập về mọi
hoạt động kinh doanh của mình.
Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú,
có thể phân loại các doanh nghiệp theo các tiêu chí sau :
Thứ nhất: dựa vào quan hệ sở hữa về vốn và tài sản, các doanh nghiệp được chia
thành doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp sở hữu hỗn
hợp.
– Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập,đầu tư vốn và
quản lý nó với tư cách là chủ sở hữu.
– Doanh nghiệp tư nhân là những doanh nghiệp do cá nhân đầu tư vốn và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
– Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp là các doanh nghiệp có sự đan xen của các hình
thức sở hữu khác nhau trong cùng một doanh nghiệp.

de_tai_tin_dung_doi_voi_doanh_nghiep_vua_va_nho_cua_ngan_han

 

pdf86 trang | Chia sẻ: superlens | Ngày: 21/09/2015 | Lượt xem: 2167 | Lượt tải: 3download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân Hàng Thương Mại, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Báo cáo tốt nghiệp
Tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân
Hàng Thương Mại
Mục lục
Lời mở đầu
Chương 1: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân
hàng Thương mại ……………………………………………………………………………………….. 1
1.1. Tín dụng đối với Ngân hàng vừa và nhỏ …………………………………………………….. 1
1.1.1. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển của nền kinh tế …….. 1
1.1.1.1 Các khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ ………………………….. 1
1.1.1.2. Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ……………………………………………….. 3
1.1.2. Một số vấn đề cơ bản về tín dụng Ngân hàng …………………………………………….. 7
1.1.2.1. Sự hình thành Ngân hàng và khái niệm tín dụng Ngân hàng ……………………… 7
1.1.2.2. Sơ lược về tín dụng Ngân hàng …………………………………………………………….. 9
1.1.3. Tầm quan trọng của tín dụng tới doanh nghiệp vừa và nhỏ ………………………… 13
1.2. Chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại và các nhân tố ảnh hưởng …………. 17
1.2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng ………………………………………………………….. 17
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ……………………………………………….. 18
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ……………………………………….. 24
1.2.3.1. Nhân tố ảnh hưởng từ phía Ngân hàng …………………………………………………. 24
1.2.3.2. Nhân tố ảnh hưởng từ phía khách hàng và nền kinh tế xã hội …………………… 26
1.2.3.3. Nhân tố từ phía nền kinh tế xã hội ……………………………………………………….. 28
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Đông Hà Nội ……….. 30
2.1. Giới thiệu chung về Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Đông Hà Nội ………………………………………………………………………………………………. 30
2.1.1. Chức năng và nhiệm vụ của Chi nhánh …………………………………………………… 30
2.1.2. Bộ máy tổ chức điều hành tại Đông Hà Nội …………………………………………….. 33
2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh tại Chi nhánh Đông Hà Nội ……………………… 39
2.1.3.1. Lĩnh vực kinh doanh chính…………………………………………………………………. 39
2.1.3.2. Đánh giá về kết quả kinh doanh của Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn Đông Hà Nội ………………………………………………………………….. 42
2.2. Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh
Đông Hà Nội ……………………………………………………………………………………………… 51
2.2.1. Những vấn đề chung về tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ……………… 51
2.2.1.1. Những vấn đề chung về cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ …………… 51
2.2.1.2. Những vấn đề chung về bảo lãnh đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ………….. 57
2.2.2. Tình hình thực tế chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Đông Hà Nội những năm gần đây …………………………………………………………………… 59
2.3. Đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Chi
nhánh…………………………………………………………………………………………………………. 66
2.3.1. Những kết quả đạt được ……………………………………………………………………….. 66
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân ………………………………………………………………………. 68
2.3.2.1. Một số mặt hạn chế trong tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi
nhánh ………………………………………………………………………………………………………… 68
2.3.2.2. Nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ ………………………………………………………………………………. 69
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Đông Hà Nội ………………………………………………………………………………………. 76
3.1. Định hướng hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi
nhánh Đông Hà Nội ……………………………………………………………………………………… 76
3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Chi nhánh ……………………………………………………………………………………….. 78
3.2.1. Biện pháp tạo nguồn ……………………………………………………………………………. 78
3.2.2. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định …………………………………………………. 79
2.1.3. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát tiền vay …………………………………….. 79
2.1.4. Xử lý kịp thời nợ quá hạn …………………………………………………………………….. 80
2.1.5. Trích lập quỹ bù đắp rủi ro ……………………………………………………………………. 81
2.1.6. Nâng cao chất lượng nhân sự ………………………………………………………………… 81
3.3. Một số kiến nghị đối với cơ quan Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước và Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam …………………………………………. 82
3.3.1. Kiến nghị đối với cơ quan Nhà nước ………………………………………………………. 82
3.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước ………………………………………………….. 83
3.3.3. Kiến nghị đối với Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam . 84
Kết luận
Chương 1
Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân Hàng Thương
Mại
1.1 Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển của nền
kinh tế
1.1.1.1 Các khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế có tư
cách pháp nhân được tổ chức ra để hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực nhất
định với mục đích công ích hoặc thu lợi nhuận. Thông thường cần có 3 điều kiện
sau để được công nhận là một doanh nghiệp :
– Có tư cách pháp nhân đầy đủ ( doanh nghiệp được Nhà nước thành lập, công
nhận hay cho phép hoạt động ) .
– Có vốn pháp định dể kinh doanh.
– Có tên gọi và hoạt động với danh nghĩa riêng, chịu trách nhiệm độc lập về mọi
hoạt động kinh doanh của mình.
Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú,
có thể phân loại các doanh nghiệp theo các tiêu chí sau :
Thứ nhất: dựa vào quan hệ sở hữa về vốn và tài sản, các doanh nghiệp được chia
thành doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp sở hữu hỗn
hợp.
– Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập,đầu tư vốn và
quản lý nó với tư cách là chủ sở hữu.
– Doanh nghiệp tư nhân là những doanh nghiệp do cá nhân đầu tư vốn và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
– Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp là các doanh nghiệp có sự đan xen của các hình
thức sở hữu khác nhau trong cùng một doanh nghiệp.
Cách phân loại này chỉ rõ quan hệ sở hữu về vốn và tài sản trong các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Đồng thời là một trong các căn cứ để Nhà
nước có chính sách kinh tế và định hướng phát triển phù hợp đối với từng loại
doanh nghiệp.
Thứ hai: dựa vào mục đích kinh doanh nười ta chia doanh nghiệp thành doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích.
– Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh là tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập
hoặc thừa nhận, hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường.Mục tiêu số một là thu
lợi nhuận tối đa.
– Doanh ghiệp hoạt động công ích ( thường là doanh nghiệp Nhà nước ) là tổ chức
kinh tế thực hiện các hoạt động về sản xuất, lưu thông hay cung cấp các dịch vụ
công cộng, trực tiếp thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước hoặc thực hiện
nhiệm vụ an ninh quốc phòng. Mục tiêu chính của các doanh nghiệp này là hiệu quả
kinh tế và xã hội.
Phân loại theo hình thức này là cơ sở để chọn tiêu thức đánh giá lợi ích xã hội của
doanh nghiệp cho hợp lý và là một trong những căn cứ quan trọng để xác định chính
sách tài trợ của Nhà nước.
Thứ ba: dựa vào lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có thể chia làm hai loại là
doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính.
– Doanh nghiệp tài chính là các tổ chức tài chính trung gian như các ngân hàng
thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm…Những doanh nghiệp này có khả
năng cung ứng cho nền kinh tế các loại dịch vụ về tài chính, tiền tệ, tín dụng, bảo
hiểm…
– Doanh nghiệp phi tài chính là các doanh nghiệp lấy sản xuất kinh doanh sản
phẩm làm hoạt động chính.
Phân loại theo tiêu thức này chỉ ra chức năng của từng loại doanh nghiệp. Chức
năng chủ yếu của các doanh nghiệp tài chính là làm môi giới thu hút và chuyển giao
vốn từ nới thừa vốn đến nơi thiếu để đầu tư phát triển kinh tế. Đối với các doanh
nghiệp phi tài chính, chức năng chủ yếu là cung cấp các sản phẩm, hàng hoá hay
dịch vụ phi tài chính đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế. Qua tiêu thức phân
loại này Nhà nước có thêm căn cứ để hoạch định các chính sách quản lý phù hợp
với mỗi loại hình doanh nghiệp trong từng ngành nghề,
Thứ tư: dựa vào quy mô kinh doanh người ta chia doanh nghiệp thành các loại
doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ.
Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ là tuỳ thuộc vào điều kiện
kinh tế xã hội cụ thể của từng nước và nó cũng thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai
đoạn phát triển kinh tế. Tại nước ta, tiêu chí phân loại DNVVN đã được quy định
tạm thời tại công văn ssố 681/CP – KTN ngày 20/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ.
Theo quy định tại công văn này, tiêu chí xác định DNVVN là vốn và số lao động.
Cụ thể là DNVVN là doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động
trung bình hàng năm dưới 200 người.
Để khuyến khích và tạo thuận lợi cho việc phát triển các DNVVN, ngày 23/11/2001
Chính phủ đã ra nghị định 90/2001/NĐ – CP. Trong đó quy định DNVVN là cơ sở
sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có
vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không
quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của ngành, địa phương
trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể áp dụng linh
hoạt đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu trên.
Tiêu chí xác định DNVVNM ở một số quốc gia
Tên nước Số lao động
Tổng số vốn hoặc
giá trị tài sản
Nhật
dưới 50 trong bán lẻ
dưới 100 trong bán buôn
dưới 300 ngành khác
dưới 10 triệu yên
dưới 30 triệu yên
dưới 100 triệu yên
Mỹ dưới 500
Thái Lan dưới 100 dưới 20 triệu bạt
Xin ga po dưới 100 dưới 499 triệu SD
Phi líp pin dưới 200 dưới 100 triệu pê-sô
In đo nê xia dưới 100 dưới 0,6 tỉ ru-pi
Một số đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ :
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế. ở nước ta,
DNVVN chiếm 33,6% trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; 65,9%
trong các hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã; 94,6% công ty trách nhiệm hữu hạn;
99,4% doanh nghiệp tư nhân; 65,9% doanh nghiệp Nhà nước và gần 100% doanh
nghiệp hoạt động ở lĩnh vực nông thôn là các DNVVN.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính năng động và linh hoạt cao trước nững thay đổi
của thị trường, có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng
nhanh vì vốn đầu tư ít và thu hồi vốn nhanh. Các DNVVN dễ phát huy bản chất hợp
tác, có thể duy trì tự do cạnh tranh và phát huy tiềm lực ở trong nước.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, có hiệu quả. Các
quyết định quản lý được đưa ra và thực hiện nhanh chóng, không ách tắc và tránh
phiền hà nên có thể tiết kiệm tối đa chi phí quản lý DN.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh, hiệu quả cao, ít
xảy ra rủi ro nên tạo ra nhiều khả năng đầu tư của các cá nhân và mọi thành phần
kinh tế.
Bên cạnh một số đặc điểm thể hiện những ưu diểm trên, DNVVN cũng còn những
đặc điểm bộc lộ mặt hạn chế như, nguồn tài chính hạn hẹp nên quá trình tích tụ và
tập trung để đầu tư tái sản xuất diễn ra rất chậm chạp, trình độ quản lý sản xuất kinh
doanh còn nhiều hạn chế, khó khăn thâm nhập vào thị trường thế giới và khu vực.
1.1.1.2 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Xét về mặt lịch sử, sự ra đời và phát triển của các nước tư bản có nền đại công
nghiệp phát triển gắn với những công ty, tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay thì sự
khởi đầu của họ cũng là những xí nghiệp, công trường thủ công sản xuất nhỏ. Trong
quá trình phát triển, sự tích tụ và tập trung vốn cùng với quá trình cạnh tranh gay
gắt giữa những xí nghiệp trong nướcvà ngoài nước đã tạo ra những tập đoàn kinh tế
lớn như ngày nay. Tuy vậy, ngay cả ở các nước tư bản phát triển, các DNVVN vẫn
giữ một vị trí quan trọng và ngày càng được khẳng định. Bởi vì nhiều lĩnh vực kinh
tế chỉ có thể sản xuất kinh doanh có hiệu quả bởi các DNVVN. Sau thời kỳ suy
thoái kinh tế những năm đầu thập niên 30, người ta luận ra rằng khu vực DNVVN
là nhân tố cực kỳ quan trọng thúc đẩy và mở rộng cạnh tranh, bảo đảm và ổn định
kinh tế, phòng chống nguy cơ khủng hoảng. Thật vậy, khu vực DNVVN là xương
sống trong nền kinh tế của nhiều quốc gia hiện tại và cả tương lai. Đặc biệt khi cuộc
Cách mạng khoa học và công nghệ ngày càng phát triểnđã tạo điều kiện cho các
DNVVN nhiều cơ hội tập trung kỹ thuật, có khả năng sản xuất các sản phẩm không
thua kém các doanh nghiệp lớn. Mặt khác xét trên phạm vi toàn cầu hiện nay về tính
chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đang chuyển từ cạnh tranh giá cả sang cạnh
tranh về chất lượng và công nghệ. Trong điều kiện này, lợi thế của các doanh
nghiệp có quy mô lớn sẽ bị giảm sút. Sự phát triển của chuyên môn hoá và hợp tác
hoá đã không cho phép một doanh nghiệp tự khép kín chu trình sản xuất kinh doanh
một cách có hiệu quả. Mà với mô hình sản xuất kiểu vệ tinh, trong đó các DNVVN
là vệ tinh cảu doanh nghiệp lớn tỏ ra rất thích hợp.
Như vậy, một nền kinh tế hiện đại thì DNVVN ngày càng không thể tan biến trong
các tập đoàn kinh tế lớn mà khả năng hợp tác để mở rộng lại ngày càng tăng.
Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển đang tiến tới một nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN thì DNVVN càng có ý nghĩa quan trọng. Thể hiện cụ thể
trên các mặt sau :
– DNVVN chiếm tỷ trọng cao về số lượng, thu hút nhiều lao động và đóng góp
phần lớn thu nhập quốc dân cho đất nước. Theo số liệu thống kê của các nhà kinh
tế, hiện nay DNVVN của nước ta chiếm trên 80% tổng số doanh nghiệp, tạo công
ăn việc làm cho khoảng 95% lao động xã hội. Như vậy, phát triển DNVVN là chủ
trương đúng đắn của Đảng, nó được gắn liền với đường lối phát triển kinh tế nhiều
thành phần của Đảng theo định hướng kinh tế thị trường nhằm giải quyết việc làm,
tăng thu nhập, góp phần vào ổn định tình hình kinh tế xã hội.
– Các DNVVN đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hoá và cung cấp dịch
vụ, có vai trò bổ sung cho các doanh nghiệp lớn, là xí nghiệp gia công vệ tinh cho
các doanh nghiệp lớn cùng hệ thống và là màng lưới tiêu thụ hàng hoá cho các
doanh nghiệp lớn. Hiện DNVVN chiếm khoảng 31% tổng sản lượng công nghiệp
hàng năm, 78% doanh số bán lẻ trong thương nghiệp, 64% khối lượng vận chuyển
hành khách và hàng hoá.
– Các DNVVN đáp ứng tích cực, kịp thời nhu cầu tiên dùng ngày càng phong phú
và đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được, chế biến hàng hoá xuất
khẩu và tăng kim ngạch xuất khẩu. Hệ thống siêu thị cũng không thể thay thế được
các của hàng bán lẻ, những nhà máy quy mô lớn hiện đại không sản xuất được
những sản phẩm đơn chiếc.Bằng sự đa dạng ngành nghề, tính nhạy cảm thị trường
các DNVVN sẽ có nhiều thuận lợi trong sản xuất và cung cấp dịch vụ, đáp ứng mọi
sản phẩm và nhu cầu tiêu dùng cầu xã hội. Với lợi thế so sánh về các nguyên liệu
nông lâm thuỷ hải sản để sản hàng hoá xuất khẩu, lợi thế về ngành nghề thủ công
truyền thống đã tạo ra khả năng vô cùng to lớn cho khu vực DNVVN tham gia sản
xuất, gia công chế biến, đại lý khai thác cho xuất khẩu. Do DN lớn hạn chế về khu
vực địa lý, phương pháp tổ chức sản xuất và nếu muốn kinh doanh thường phải sử
dụng các DNVVN làm vệ tinh thu mua nguyên liệu, chế biến, đóng gói…
– Các DNVVN có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khai
thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng sản xuất. Phát triển DNVVN sẽ giúp các địa
phương khai thác thế mạnh về đất đai, tài nguyên, lao động trong mọi lĩnh vực phục
vụ phát triển kinh tế địa phương. Từng địa phương cũng bị giới hạn bởi ngân sách,
khả năng tích tụ và tập trung vốn của DN tư nhân không nhiều nên việc phát triển
doanh nghiệp lớn là hạn chế. Chính vì vậy, Đảng và Chính phủ ta đưa ra các chính
sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại ở vùng núi phía Bắc, vùng cao nguyên Nam
trung bộ và phát huy các làng nghề truyền thống.
Như vậy, có thể khẳng định vị trí và vai trò của các DNVVN, đồng thời việc chú
trọng phát triển các DNVVN là một trong những hướng chiến lược quan trọng quá
trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Đánh giá vai trò DNVVN ở Việt Nam
TT Vai trò Tỷ lệ ( % )
1 Góp phần tăng trưởng kinh tế 51,7
2 Tạo việc làm, tăng thu nhập 88,5
3 Tăng tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế 83,2
4 Tham gia đào tạo đội ngũ các nhà kinh doanh Việt Nam 63,2
Nguồn: Chính sách hỗ trợ phát triển DNVVN ở Việt Nam
1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về tín dụng Ngân hàng
1.1.2.1 Sự hình thành Ngân hàng và khái niệm tín dụng Ngân hàng
Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của
nền sản xuất hàng hoá. Nền kinh tế và Ngân hàng có mối quan hệ qua lại hai chiều,
Ngân hàng là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và sự phát triển kinh tế là điều
kiện cho hoạt động của Ngân hàng. Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền
hoặc đúc tiền của các thợ vàng – Ngân hàng thợ vàng. Họ tiến hành mua bán, trao
đổi ngoại tệ bản tệ và thu lợi nhuận từ chênh lệch giá. Những nhà buôn tiền này cất
trữ hộ nhiều người khác là điều kiện thực hiện thanh toán hộ cho các thương gia,
lãnh chúa, địa chủ…Từ đây hình thức tín dụng đầu tiên đã ra đời, đó là tín dụng
nặng lãi với lãi suất cao và phục vụ mục đích chủ yếu là tiêu dùng của những người
giàu. Do tính chất vô danh của tiền, nhà buôn tiền có thể sử dụng tạm thời một phần
tiền gửi của khách để cho vay. Vì vậy đã làm thay đổi căn bản hoạt động của kẻ cho
vay nặng lãi, điều kiện để mở rộng cho vay và hạ thấp lãi suất. Cùng với sự phân
biệt giữa sản xuất và tiêu thụ, tính thời vụ trong sản xuất, mua bán sản phẩm thì tín
dụng thương mại đã xuất hiện. Đó là quan hệ tín dụng bằng hàng hoá giữa những
doanh nghiệp hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực sản xuất lưu thông hàng hoá, được
hình thành trên cơ sở mua bán chịu hàng hoá. Nhờ có tín dụng thương mại mà các
doanh nghiệp không chỉ được đáp ứng nhu cầu vốn mà còn tiêu thụ được hàng hoá
của mình. Song tín dụng thương mại chỉ có thể thực hiện giữa

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân Hàng Thương Mại

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *