[block id=”bo-sung-1″]

Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu.
Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện
nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết. Hành vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả. Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch như thế xuất phát từ ba lý do sau:
• Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn có quyền quyết định giá cả của một giao dịch. Do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn.
• Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục.

Tải tài liệu miễn phí - My WordPress Blog15

Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Vấn nạn chuyển giá trong hoạt động đầu tư quốc tế, thực trạng và giải pháp hạn chế chuyển giá tại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

ĐỀ TÀI:
VẤN NẠN CHUYỂN GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ,
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ CHUYỂN GIÁ TẠI VIỆT NAM
NHÓM 21
Học phần tín chỉ: Đầu tư Quốc tế DTU308(2-1314).1_LT
1, Nguyễn Văn Vịnh, MSV: 100.101.1133
2, Nguyễn Xuân Bách, MSV: 111.111.0263
Giảng viên hướng dẫn:
MỤC LỤC
I, Thế nào là chuyển giá?…………………………………………………………………………3
II, Các dấu hiệu nhận biết hiện tượng chuyển giá………………………………….5
III, Các phương thức chuyển giá phổ biến……………………………….………6
IV, Động cơ khiến các TNCs thực hiện chuyển giá ………………..……….…..7
1. Động cơ bên ngoài……………………………………………….…………….7
2. Động cơ bên trong…………………………………………………….……….8
V, Tác động của chuyển giá……………………………………..……………….9
1. Đối với bản thân các TNC…………………………………….………………..9
2. Đối với các quốc gia liên quan…………………………….…………………..10
a. Tác động của chuyển giá đối với quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư….11
b. Tác động đối với quốc gia xuất khẩu đầu tư…………………………..12
VII, Giải pháp hạn chế Chuyển giá tại Việt Nam………………………………….12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, Tài liệu từ internet:
2, Luật Thuế Thu nhập Doanh Nghiệp 2008 và các Nghị định sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn thi hành
3, Luật Thuế Xuất – Nhập Khẩu 2005 và các Nghị định sửa đổi bổ sung, hướng dẫn thi hành
4, Luật Thuế GTGT 2005 và các Nghị định sửa đổi bổ sung, hướng dẫn thi hành
5, Giáo trình Đầu tư Quốc tế trường Đại học Ngoại thương
6, Thông tư 66/2010/TT-BTC ngày 22 tháng 4 năm 2010, Hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết
7, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ trên Thế giới
8, Công ước mẫu của OECD năm 2009 về định giá chuyển giao

I, Thế nào là chuyển giá?
Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu.
Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện
nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết. Hành vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả. Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch như thế xuất phát từ ba lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn có quyền quyết định giá cả của một giao dịch. Do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn.
Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục.
Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của họ. Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại. Tồn tại sự khác nhau về chính sách thuế của các quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế – xã hội của họ không thể đồng nhất, cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế là điều tất yếu. Chênh lệch mức độ điều tiết thuế vì thế hoàn toàn có thể xảy ra.
Vì vậy, chuyển giá chỉ có ý nghĩa đối với các giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể có mối quan hệ liên kết. Để làm điều này họ phải thiết lập một chính sách về giá mà ở đó giá chuyển giao có thể được định ở mức cao hay thấp tùy vào lợi ích đạt được từ những giao dịch như thế. Chúng ta cần phân biệt điều này với trường hợp khai giá giao dịch thấp đối với cơ quan quản lý để trốn thuế nhưng đằng sau đó họ vẫn thực hiện thanh toán đầy đủ theo giá thỏa thuận. Trong khi đó nếu giao dịch bị chuyển giá, họ sẽ không phải thực hiện vế sau của việc thanh toán trên và thậm chí họ có thể định giá giao dịch cao. Các đối tượng này nắm bắt và vận dụng được những quy định khác biệt về thuế giữa các quốc gia, các ưu đãi trong quy định thuế để hưởng lợi có vẻ như hoàn toàn hợp pháp. Như thế, vô hình chung, chuyển giá đã gây ra sự bất bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế do xác định không chính xác nghĩa vụ thuế, dẫn đến bất bình đẳng về lợi ích, tạo ra sự cách biệt trong ưu thế cạnh tranh.
Tuy vậy, thật không đơn giản để xác định một chủ thể đã thực hiện chuyển giá. Vấn đề ở chỗ, nếu định giá cao hoặc thấp mà làm tăng số thu thuế một cách cục bộ cho một nhà nước thì cơ quan có thẩm quyền nên định lại giá chuyển giao. Chẳng hạn, giá mua đầu vào nếu được xác định thấp, điều đó có thể hình thành chi phí thấp và hệ quả là thu nhập trước thuế sẽ cao, kéo theo thuế TNDN tăng; hoặc giả như giá xuất khẩu định cao cũng làm doanh thu tăng và kết quả là cũng làm tăng số thuế mà nhà nước thu được. Nhưng cần hiểu rằng điều đó cũng có nghĩa rằng nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp liên kết ở đầu kia có khả năng đã giảm xuống do chuyển một phần nghĩa vụ của mình qua giá sang doanh nghiệp liên kết này. Hành vi này chỉ có thể được thực hiện thông qua giao dịch của các chủ thể có quan hệ liên kết. Biểu hiện cụ thể của hành vi là giao kết về giá. Nhưng giao kết về giá chưa đủ để kết luận rằng chủ thể đã thực hiện hành vi chuyển giá. Bởi lẽ nếu giao kết đó chưa thực hiện trên thực tế hoặc chưa có sự chuyển dịch quyền đối với đối tượng giao dịch thì không có cơ sở để xác định sự chuyển dịch về mặt lợi ích.
Như vậy, ta có thể xem chuyển giá hoàn thành khi có sự chuyển giao đối tượng giao dịch cho dù đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán hay chưa.
Tuy hiểu rõ về “chuyển giá” nhưng để xác định các doanh nghiệp có mối quan hệ liên kết giao dịch khi giao dịch với nhau không theo giá thị trường như các bên giao dịch độc lập khác là một vấn đề không đơn giản.
Một ví dụ minh họa:
Chẳng hạn, một Công ty tại Hoa Kỳ (A1) sản phẩm kinh doanh là xe, lập một công ty con là (A2) ở Trung Quốc sản xuất các linh kiện, phụ kiện hoàn chỉnh cho xe, giá vốn sản xuất là 20 đồng, sau đó xuất các linh kiện phụ kiện này sang Công ty A3 (công ty con của A1) ở Thái Lan giá 40 đồng. Công ty ở Thái Lan (A3) xuất bằng giá 40 đồng sang công ty trong mối liên kế ở Việt Nam là công ty A4 để lắp ráp với giá nhân công lắp ráp là 10 đồng. Sau đó sản phẩm này bán tại Việt Nam là 50 đồng. Tính trên lợi nhuận gộp thì công ty A4 tại Việt Nam là không có lãi (giá nhập 40 + lắp ráp 10), chưa kể A4 còn lỗ cả chi phí quản lý và chi phí bán hàng. Nhưng nếu tính trong mối quan hệ liên kết các Công ty nhóm A thì lợi nhuận gộp cho nhóm là 20 đồng(giá bán 50 – sản xuất 20 – lắp ráp 10), vậy quan trọng nhất là Việt Nam giữ được phần nào trong 20 đồng lợi nhuận gộp này ở lại Việt Nam.
Doanh nghiệp có nhiều lý giải cho rằng không phải là chuyển giá: kinh doanh hợp pháp, đầy đủ các chứng từ xuất nhập khẩu, chọn Trung Quốc sản xuất vì có đa dạng nguyên liệu giá rẽ đạt yêu cầu, nhân công nhiều, đất đai thuê rẻ. Chọn Thái Lan để kiểm tra chất lượng linh phụ kiện vì con người, kinh nghiệm công nghiệp xe phát triển hơn Việt Nam và cuối cùng như vậy thì chất lượng mới đảm bảo cho tiêu dùng Việt Nam.
II, Các dấu hiệu nhận biết hiện tượng chuyển giá
Theo thống kê, cả nước có khoảng 50% DN FDI kê khai lỗ, trong đó nhiều DN thua lỗ liên tục trong 3 năm liên tiếp. Tại TP. Hồ Chí Minh có tới gần 60% trong số 3.500 DN FDI nhiều năm qua thường xuyên kê khai lỗ; Tỉnh Lâm Đồng cũng xuất hiện tình trạng tương tự với 104/111 DN FDI báo cáo lỗ liên tục; Tỉnh Bình Dương, một trong những tỉnh thu hút được nhiều dự án FDI, cũng có đến 50% DN FDI báo cáo lỗ từ năm 2006 – 2011 (Năm 2007, số DN khai báo lỗ chiếm tỷ lệ 53%, năm 2008 là 58%, năm 2009 là 55%, năm 2010 là 44% và năm 2011 là 48%).
Mới đây, Thanh tra Chính phủ công bố Kết luận thanh tra việc thu nộp ngân sách tại khu chế xuất và DN chế xuất trên địa bàn TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và Đồng Nai đã phát hiện có 57% trong tổng số 399 DN chế xuất kiểm tra không phát sinh doanh thu hoặc hạch toán lỗ hoặc không lãi; nhiều DN báo lỗ liên tục nhiều năm. Trong đó, qua xem xét 125 DN hạch toán lỗ trong 3 năm từ năm 2009 đến 2011 thì có đến 36 DN lỗ 3 năm liên tiếp với tổng mức lỗ lên tới trên 2.856 tỷ đồng; 69 DN lỗ 2 năm liên tiếp với tổng mức lỗ 1.829 tỷ đồng, nhiều DN có số lỗ vượt quá số vốn chủ sở hữu.
Các báo cáo của cơ quan thuế cho thấy, các DN FDI khai kinh doanh thua lỗ thường tập trung trong lĩnh vực gia công may mặc, da giày; sản xuất, kinh doanh chè xuất khẩu; công nghiệp chế biến… Đặc biệt, ở TP. Hồ Chí Minh, có đến 90% DN FDI hoạt động trong lĩnh vực may mặc có kết quả kinh doanh thua lỗ trong khi hầu hết các DN trong nước cùng ngành nghề đều có lãi. Mặc dù thua lỗ triền miên song các DN FDI này vẫn đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Rõ ràng những con số đó cho chúng ta có những nghi ngờ các doanh nghiệp FDI có dấu hiệu chuyển giá. Để xác định 1 doanh nghiệp FDI có chuyển giá hay không, chúng ta nhìn vào các dấu hiệu sau:
Các doanh nghiệp bị lỗ trong 3 năm liên tiếp trở lên, sau giai đoạn mới thành lập;
Có các nghiệp vụ chuyển giao từ các doanh nghiệp liên kết ở những quốc gia có thuế suất thấp;
Các doanh nghiệp có tình hình lãi và lỗ luân phiên hoặc tình hình lãi lỗ phát sinh không bình thường;
Các doanh nghiệp mà tỷ suất lợi nhuận của chúng nhỏ hơn nhiều (chênh lệchnkhá lớn) so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành;
Các doanh nghiệp mà tỷ suất lợi nhuận của chúng thấp hơn tỷ suất lợi nhuậnncủa các doanh nghiệp khác trong cùng một tập đoàn.
Các doanh nghiệp mà có chi phí sản xuất thực tế khá thấp.
Ở đây cũng xin lưu ý những dấu hiệu nêu trên chỉ mang tính chất tham khảo chứ không phải là chắc chắn sẽ có chuyển giá trong những doanh nghiệp có những dấu hiệu đó. Tuy nhiên, khi một trong những dấu hiệu trên xuất hiện tại một doanh nghiệp kèm theo những trường hợp như: thiết bị sản xuất của doanh nghiệp đó được mua từ công ty mẹ ở nước ngoài; nguyên liệu hoặc các bộ phận của sản phẩm được cung cấp bởi các công ty mẹ hoặc các công ty liên kết trong cùng 1 tập đoàn hay sản phẩm của doanh nghiệp được bán cho công ty mẹ hoặc những doanh nghiệp liên kết khác, thì khả năng xảy ra hiện tượng chuyển giá là rất cao.
III, Các phương thức chuyển giá và thực trạng tại Việt Nam
1. Các thành viên TNC sẽ mua vào nguyên vật liệu, thành phẩm và bán thành phẩm với giá cao rồi bán sản phẩm cho các công ty thành viên với giá thấp nhằm tối thiểu hóa số thuế thu nhập Doanh nghiệp phải nộp.
Đó chính là trường hợp của 17 DN chè ở Lâm Đồng. Làm phép tính đơn giản, cứ 7 kg chè tươi mới được 1 kg chè khô, với giá thị trường khoảng 40.000 đồng/kg chè tươi thì 1 kg chè khô phải có giá tối thiểu là 280.000 đồng/kg. Thế nhưng, các DN này lại đàng hoàng bán cho công ty liên kết chỉ với giá 140.000 đồng/kg. Khi làm thế, DN cầm chắc càng sản xuất càng lỗ, thế mà họ vẫn rất nhiệt tình sản xuất, nhiệt tình bán.
Trường hợp khác là Công ty TNHH LesGans Việt Nam, một DN Nhật Bản sản xuất găng tay chơi golf và chơi bóng chày cũng bị Cục Thuế Đà Nẵng phát hiện chuyển giá khi bán găng tay cho công ty mẹ thấp hơn từ 36% đến 44% so với giá bán cho các công ty khác. Vì vậy, từ con số lỗ gần 21 tỷ đồng, sau khi bị phát giác thì công ty này đã phải sửa lại cho đúng là lãi hơn 24 tỷ đồng.
2. Chuyển giá thông qua mua các Tài sản cố định vô hình và hữu hình với giá thật cao hay chi trả các chi phí bản quyền, chi phí xây dựng thương hiệu, quảng cáo…
Các TNC sẽ xây dựng các phòng nghiên cứu và phát triển sản phẩm tại nơi có thuế suất cao. Kết quả của việc nghiên cứu thì tất cả các thành viên trong TNC đều được áp dụng như nhau nhưng toàn bộ chi phí thì chỉ có Công ty con tại đó phải chịu nhằm gây lỗ và trốn thuế. Hoặc TNC thực hiện quảng cáo trên nhiều khu vực nhưng chi phí lại dồn hết về một Công ty con đặt tại nơi có thuế suất cao. Các hành vi phân bổ chi phí này chính là Chuyển giá.
Điển hình cho phương thức này là Công ty Coca Cola tại Việt Nam. Doanh nghiệp này liên tục mở rộng sản xuất từ năm 1993 đến nay, doanh thu tăng trưởng hàng năm. Song cũng từ năm 1994 đến nay, Coca-Cola Việt Nam chưa nộp đồng thuế nào cho Nhà nước. Giải thích cho việc này Coca Cola giải trình rằng “Chi quảng cáo, tiếp thị, bảo vệ thương hiệu quá lớn nên chi phí vượt quá doanh thu.”
IV, Động cơ khiến các TNCs thực hiện chuyển giá
1. Động cơ bên ngoài
Một là, khi phát hiện ra thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa hai quốc gia có sự khác biệt lớn, với mục tiêu luôn muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình các TNC sẽ tiến hành thực hiện hành vi chuyển giá nhằm mục đích giảm thiểu tối đa khoản thuế mà TNC này phải nộp cũng như là tối đa hóa lợi nhuận sau thuế của TNC. Khi có chênh lệch về thuế suất thì thủ thuật chuyển giá mà các TNC thường sử dụng đó là nâng giá mua đầu vào các nguyên, vật liệu, hàng hóa và định giá bán ra hay giá xuất khẩu thấp tại các công ty con đóng trên các quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao. Như vậy, bằng cách thực hiện này thì TNC đã chuyển một phần lợi nhuận từ quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao sang quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp và như vậy mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đã được thực hiện thành công. Như vậy động cơ ở đây là có sự khác biệt về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp.
Hai là, TNC mong muốn bảo toàn vốn đầu tư theo nguyên tệ, kỳ vọng về sự biến đổi trong tỷ giá và trong chi phí cơ hội đầu tư. Với mục đích là bảo toàn và phát triển nguồn vốn đầu tư ban đầu, các TNC sẽ tiến hành đầu tư vào một quốc gia nếu họ dự đoán rằng trong tương lai đồng tiền của quốc gia này sẽ mạnh lên nghĩa là số vốn đầu tư ban đầu của họ được bảo toàn và phát triển, ngược lại họ sẽ rút đầu tư ra khỏi một quốc gia nếu họ dự đoán rằng trong tương lai đồng tiền của quốc gia này sẽ bị yếu đi nghĩa là vốn đầu tư ban đầu của họ bị giảm đi. Ví dụ sau: giả sử có một TNC đang định đầu từ vào sản xuất tại Việt Nam với số vốn ban đầu bỏ ra là 100 triệu USD với tỷ giá USD/VND là 19.000 tại thời điểm đầu tư, như vậy tổng vốn đầu tư tương đương là 1.900 tỷ đồng. Thời hạn đầu tư của dự án là 10 năm và giả sử cuối thời hạn đầu tư, TNC rút vốn đầu tư trong tình trạng là hòa vốn kinh doanh. Xảy ra 3 trường hợp đối với lợi nhuận mà TNC thu được từ Việt Nam do chênh lệch tỷ giá:
Tỷ giá của USD/VND vẫn giữ nguyên là 19.000: như vậy với tình trạng hòa vốn thì vốn vẫn bảo tồn là 1.900 tỷ đồng, TNC rút vốn ra khỏi Việt Nam là 100 triệu USD. Do đó lợi nhuận mang lại do chênh lệch tỷ giá là 0%.
Việt Nam Đồng tăng giá 10% so với USD, tức lúc này tỷ giá USD/VND giảm và 1.900 tỷ VND quy đổi thành 110 triệu USD. Như vậy lúc này TNC thu được do chênh lệch tỷ giá bằng đúng 10% do Đồng Việt Nam tăng giá.
Trường hợp ngược lại là Đồng Việt Nam giảm giá 10% tức là tỷ giá USD/VND tăng lên làm cho 1.900 tỷ VND lúc này chỉ đổi được 91 triệu USD. Như vậy vốn đầu tư của TNC rút ra khỏi Việt Nam bị giảm xuống. Lúc này lỗ do chênh lệch tỷ giá cùng bằng đúng tỷ lệ giảm giá của Đồng Việt Nam là 10%.
Dựa trên các dự báo về tình hình tỷ giá mà các TNC có thể thực hiện các khoản thanh toán nội bộ sớm hơn hay muộn hơn nhằm giảm rủi ro về tỷ giá. Các khoản công nợ có thể được thanh toán sớm hơn nếu các dự báo cho rằng đồng tiền của quốc gia mà TNC có công ty con sẽ bị mất giá. Và ngược lại các khoản thanh toán sẽ bị trì hoãn nếu dự báo cho rằng đồng tiền của quốc gia đó có xu hướng mạnh lên.
Ba là, chi phí cơ hội cũng là một động lực để các TNC thực hiện hành vi chuyển giá. Các TNC nhận ra rằng các khoản lợi nhuận của họ chỉ có thể chuyển về nước sau khi kết thúc năm tài chính và sau khi được kiểm tra của cơ quan thuế và chịu sự kiểm soát ngoại tệ của cơ quan quản lý ngoại hối. Vì vậy, các cơ hội đầu tư có thể sẽ bị bỏ lỡ. Do đó các TNC sẽ tiến hành thủ thuật chuyển giá nhằm thu hồi nhanh vốn đầu tư và bắt lấy cơ hội đầu tư khác. Trong các hoạt động liên doanh liên kết với các đối tác trong nước thì các TNC sẽ định giá thật cao các yếu tố đầu vào mua từ công ty mẹ nhằm tăng cường tỷ lệ góp vốn và nắm quyền quản lý. Ngoài ra, các TNC có thể cấu kết với các công ty nước ngoài khác làm lũng đoạn thị trường trong nước.
Bốn là, do tình hình lạm phát của các quốc gia khác nhau, nếu quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao tức đồng tiền nước đó bị mất giá. Do đó TNC sẽ tiến hành hoạt động chuyển giá nhằm bảo toàn lượng vốn đầu tư và lợi nhuận.
Năm là, yếu tố tình hình kinh tế-chính trị của quốc gia mà TNC có chi nhánh hay công ty con. Các chính sách kinh tế thay đổi ảnh hưởng đến quyền lợi của các công ty con của TNC thì TNC sẽ thực hiện các hành vi chuyển giá nhằm chống lại các tác động. Hoặc nếu tình hình chính trị bất ổn, để giảm rủi ro và bảo tồn vốn kinh doanh bằng cách chuyển giá thì TNC muốn thu hồi vốn đầu tư sớm. Ngoài ra hoạt động chuyển giá cũng nhằm làm giảm các khoản lãi từ đó giảm áp lực đòi tăng lương của lực lượng lao động, cũng như giảm sự chú ý của các cơ quan thuế của nước sở tại.
2. Động cơ bên trong
Ngoài những động cơ bên ngoài đã nêu trên, thì hoạt động chuyển giá còn được thực hiện do các động cơ bên trong: Khi các hoạt động sản xuất kinh doanh của TNC tại chính quốc hay tại các công ty thành viên trên các quốc gia khác bị thua lỗ. Lý do dẫn đến sự thua lỗ có thể là do sai lầm trong kế hoạch kinh doanh, sai lầm trong việc nghiên cứu và đưa sản phẩm mới vào thị trường, các chi phí quản lý hay chi phí quảng cáo, quảng bá sản phẩm quá cao dẫn đến kết quả kinh doanh bị thua lỗ. Để tạo ra một bức tranh tài chính tươi sáng hơn cho công ty khi đứng trước các cổ đông và các bên hữu quan khác thì chuyển giá như là một cứu cánh để thực hiện ý đồ trên. Chuyển giá giúp cho các TNC san sẻ thua lỗ giữa các thành viên với nhau từ đó làm giảm các khoản thuế phải nộp và tạo nên bức tranh kết quả kinh doanh giả tạo vi phạm pháp luật của các quốc gia.
Các TNC khi thâm nhập vào một thị trường mới thì điều quan trọng trong giai đoạn này là phải chiếm lĩnh thị trường, chiếm lĩnh thị phần nhằm xây dựng nền móng ban đầu cho hoạt động kinh doanh sau này. Vì vậy mà các TNC trong giai đoạn này sẽ tăng cường các hoạt động quảng cáo, quảng bá sản phẩm làm cho giai đoạn này TNC sẽ bị lỗ nặng và kéo dài. Trong các mối liên kết kinh doanh hay hợp tác kinh doanh thì các TNC sẽ dựa vào tiềm lực tài chính hùng hậu của mình mà thực hiện các hành vi chuyển giá bất hợp pháp để làm cho hoạt động kinh doanh thua lỗ kéo dài và chiếm lấy quyền quản lý và kiểm soát công ty. Tồi tệ hơn là đẩy các đối tác ra khỏi hoạt động kinh doanh và chiếm toàn bộ quyền kiểm soát và chuyển quyền sở hữu công ty. Tình trạng này thường xảy ra phổ biến tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam khi mà trình độ quản lý còn yếu kém. Sau khi đánh bật các các đối thủ và những bên liên kết kinh doanh ra khỏi thị trường thì TNC sẽ chiếm lĩnh thị trường và nâng giá sản phẩm để bù lại phần chi phí trước đây đã bỏ ra.
Do được hưởng các đặc quyền, đặc lợi trong quá trình kêu gọi đầu tư của nước chủ nhà và nắm trong tay các quyền về kinh tế chính trị và xã hội mà TNC xem công ty con đặt trên quốc gia này như là trung tâm lợi nhuận của cả TNC và thực hiện hành vi chuyển giá để lại hậu quả đáng kể cho nước tiếp nhận đầu tư.
Ngoài ra chuyển giá còn được thực hiện do việc chuyển giao các sản phẩm và dịch vụ có tính đặc thù cao, độc quyền và tính bảo mật cao như trong các ngành công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, y dược… nhằm giảm các rủi ro khi giao dịch các sản phẩm này thì chuyển giá là phương pháp được các TNC lựa chọn.
V, Tác động của chuyển giá
1. Đối với bản thân các TNC
Hoạt động chuyển giá dưới góc độ của TNC sẽ được nhìn nhận theo hai hướng khác nhau, đó là có thể giúp cho TNC dễ dàng thực hiện kế hoạch và mục tiêu kinh doanh của mình về lợi nhuận và thuế. Nhưng một mặt khác, chuyển giá lại mang lại nguy cơ TNC phải gánh chịu những hình phạt nặng nề của quốc gia sở tại và các quốc gia có liên quan. Dựa vào các lợi thế về tiềm lực tài chính, những ưu đãi mà các quốc gia đặc cách cho các TNC khi kêu gọi thu hút đầu tư như thuế suất, hạn ngạch, lĩnh vực đầu tư… thì các TNC

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Đề tài Vấn nạn chuyển giá trong hoạt động đầu tư quốc tế, thực trạng và giải pháp hạn chế chuyển giá tại Việt Nam

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *