[block id=”bo-sung-1″]

Đểphát triển và tồn tại, con người rất cần
đến Nhà nước. Nhưng một khi cần đến Nhà
nước, phải nghĩ đến cách kiểm soát quyền lực
Nhà nước, vì rằng, Nhà nước do con người điều
khiển, mà đã là con người thì cũng giống như
mọi người khác, họ đều có những đam mê,
những khuyết tật như những người khác. Mỗi
khi con người có quyền lực nhà nước trong tay,
thì những đam mê, những bản tính tiêu cực của
họ hơn hẳn con người khác, vì với quyền lực
trong tay nhất là với vũkhí của quyền lực công,
họcó nhiều cơhội, nhiều khảnăng và điều kiện
trong việc thểhiện hơn.

hien_phap_phai_la_ban_van_kiem_soat_quyen_luc_nha_nuoc

pdf9 trang | Chia sẻ: superlens | Ngày: 19/09/2015 | Lượt xem: 5770 | Lượt tải: 11download

Bạn đang xem nội dung tài liệu Hiến pháp phải là bản văn kiểm soát quyền lực nhà nước, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 4 (2014) 1-9
1
NGHIÊN CỨU
Hiến pháp phải là bản văn kiểm soát quyền lực nhà nước1
Nguyễn Đăng Dung*
Viện nghiên cứu Chính sách, Pháp luật và Phát triển
169 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 20 tháng 9 năm 2014
Chỉnh sửa ngày 28 tháng 11 năm 2014; Chấp nhận đăng ngày 18 tháng 12 năm 2014
Tóm tắt: Bên cạnh việc phân tích các cơ sở lý luận, tác giả chỉ rõ nội dung cùng những thách thức
của việc thực hiện nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước của Hiến mới năm 2013.
Từ khóa: Hiến pháp; kiểm soát quyền lực nhà nước.
1. Sự cần thiết phải kiểm soát quyền lực
nhà nước∗1
Để phát triển và tồn tại, con người rất cần
đến Nhà nước. Nhưng một khi cần đến Nhà
nước, phải nghĩ đến cách kiểm soát quyền lực
Nhà nước, vì rằng, Nhà nước do con người điều
khiển, mà đã là con người thì cũng giống như
mọi người khác, họ đều có những đam mê,
những khuyết tật như những người khác. Mỗi
khi con người có quyền lực nhà nước trong tay,
thì những đam mê, những bản tính tiêu cực của
họ hơn hẳn con người khác, vì với quyền lực
trong tay nhất là với vũ khí của quyền lực công,
họ có nhiều cơ hội, nhiều khả năng và điều kiện
trong việc thể hiện hơn.
_______

ĐT: 84-904250244
Email: dangdung52.pld@gmail.com
1
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ phát triển khoa học
và công nghệ quốc gia (Nafosted) trong đề tài mã số III
1.2 2012.02.
Vì vậy, một nhà nước dân chủ, một dân tộc
muốn phát triển thì trước hết phải tìm mọi cách
hạn chế những sự đam mê, những khuyết tật
của con người, trước hết của những người nắm
quyền lực nhà nước .
Nhân chi sơ tính bản ác: Con người bên
cạnh những đức tính sáng tạo, chăm chỉ còn
chứa đựng cả những tính lười nhác, tùy tiện,
tính tham lam, tính ỷ lại, tính dựa dẫm vào
những người khác, nhất là tính cách đam mê
quyền lực, “một người đứng trên muôn người”
theo cách nói và cũng là mong muốn của người
phương Đông, mà điển hình người Trung Quốc.
Khi có quyền lực trong tay, con người có thể
đạt được nhiều thứ như: của cải, danh vọng,
quyền được sai khiến người khác… Vì vậy, khi
một người nào đó được giao quyền lực nhà
nước, nếu như không có những động cơ khắc
phục, sẽ gây nên hậu quả tiêu cực của Nhà
nước. Ông Leo, một học giả lớn người Trung
N.Đ. Dung / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 4 (2014) 1-9
2
Quốc cho rằng: “Người Trung Quốc nhầm
tưởng rằng bản tính con người vốn là thiện, lừa
người và tự lừa mình, từ đó hình thành đặc
trưng nhân cách của quyền lực Trung Hoa, xem
trọng nhân trị, xem nhẹ pháp trị, dẫn đến việc
chủ nghĩa chuyên trị kéo dài suốt mấy nghìn
năm. Trong khi đó, người phương Tây cổ đại
lại cho rằng, bản tính con người vốn là ác, họ
không tin vào nhân trị, mà rất coi trọng pháp trị,
vì thế nhân cách thị trường của họ được coi
trọng và đề cao, và cuối cùng hình thành một
chế độ kiểm soát chính phủ, điều đó khiến cho
mức độ tai hại do quyền lực gây lên giảm thiểu
đi được rất nhiều [1].
Lý thuyết kiểm soát quyền lực đó được thể
hiện bởi một nguyên nhân bản tính của con
người là đam mê quyền lực: Bởi vì khi có
quyền lực con người dễ có khả năng buộc người
khác phải làm theo những ý muốn đam mê của
mình. Sự thực “Lòng đam mê quyền lực và
lòng đam mê danh vọng là những ước muốn vô
hạn định của con người” [2]. Vì thế, khi có
quyền lực, con người hay có xu hướng lạm
quyền. Đó là một trong những rủi ro vô cùng
nguy hiểm của xã hội.
Hoạt động của Nhà nước là một hoạt động
phức tạp, thường là phải do nhiều người cùng
đảm nhiệm, nên nếu không có sự phân công rõ
ràng thì rất dễ rơi vào tình trạng ỷ lại lẫn nhau,
theo kiểu “Cha chung, không ai khóc”. Trong
hoạt động của lĩnh vực công, càng tập trung bao
nhiêu và càng làm việc tập thể với nguyên tắc
đa số để ban hành quyết định bao nhiêu, thì lại
càng tạo ra cơ sở nhiều hơn cho sự ỷ lại và
không chịu trách nhiệm cá nhân bấy nhiêu.
Con người có sai lầm nên không có một thể
chế nào của con người thoát khỏi sự sai lầm:
Sự kiểm soát quyền lực nhà nước còn một
nguyên nhân sâu xa nữa là bản tính hay tùy tiện
của chính con người. Con người vốn dĩ hành
động theo bản năng, thiếu sự cân nhắc kỹ lưỡng
các điều kiện hoàn cảnh chi phối các hành vi
của mình. Để tránh sự tùy tiện trong việc sử
dụng quyền lực nhà nước, không còn cách nào
khác hơn là phải kiểm soát quyền lực. Khả năng
phạm sai lầm nằm ngay trong con người. Sở dĩ
như vậy, vì rằng trí tuệ lý tính của con người là
có hạn. Một người có trí tuệ siêu việt đến đâu đi
chăng nữa, thì cũng không thể thoát khỏi sai
lầm. J.S.Mill, một triết gia và một nhà kinh tế
lớn của Anh quốc thế kỷ XIX, đã từng cảnh
báo: “Loài người không thể là thánh thần,
không bao giờ sai, chân lý của họ phần nhiều
chỉ là các chân lý một nửa” [3]. Khi soạn thảo
ra bản Hiến pháp thành văn đầu tiên của thế
giới, Hiến pháp Mỹ năm 1787, J. Madison cũng
đã từng nói về điều tương tự: Chính phủ không
phải là những thiên thần, nên chính phủ cũng có
thể mắc sai lầm. Đây là nhận thức căn bản của
ông khi đề xuất hệ thống kìm chế và đối trọng
cho bản Hiến pháp này [4].
Mức độ nguy hiểm của quyền lực nhà nước:
Cơ sở của sự phải kiểm soát quyền lực nhà
nước xuất phát từ đặc điểm công khai, mang
tính quyền lực công cộng làm cho Nhà nước có
một sức mạnh ghê gớm. Cùng là một loại tội
phạm, nhưng tội phạm cấu kết với các nhân
viên tha hóa của Nhà nước bao giờ cũng có hậu
quả nặng nề hơn và cũng khó phát hiện hơn…
Việc kiềm chế tiềm năng sử dụng và lạm
quyền lực nhà nước là một thách thức đối với
bất cứ Nhà nước nào. Điều khó khăn hơn nữa là
làm việc này mà không làm cho các cơ quan
nhà nước mất đi tính mềm dẻo cần phải có để
tiến hành các công việc của Nhà nước. Việc sử
dụng không đúng quyền lực nhà nước tạo ra
những vấn đề nghiêm trọng của sự tín nhiệm
Nhà nước của công chúng sẽ có tác động rất lâu
dài trước công luận.
Lý thuyết kiểm soát quyền lực nhà nước
được thiết lập đầu tiên bởi các nhà tư tưởng
chính trị – pháp lý, đó là của Aristotle, J. Locke,
N.Đ. Dung / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 4 (2014) 1-9 3
S.L. Montesquieu và J.J. Rousseau, tạo thành
học thuyết được gọi là Chủ nghĩa Hiến
pháp/Chủ nghĩa hợp hiến (Constitutionalizm),
mà cái cốt lõi căn bản của học thuyết là sự giới
hạn quyền lực nhà nước nhằm chống lại chế độ
chuyên chế phong kiến, và bảo vệ nhân quyền.
Các yếu tố của Chủ nghĩa Hiến pháp –
Chính quyền bị giới hạn quyền lực gồm:
i. Chính quyền phù hợp với Hiến pháp;
ii. Phân quyền;
iii. Chủ quyền thuộc về nhân dân,
iv. Tư pháp độc lập và có tòa án Hiến pháp;
v. Luật dân quyền/quyền con người;
vi. Kiểm soát cảnh sát;
vii. Quân đội nằm dưới điều khiển của dân sự;
viii. Không một thế lực nào đình chỉ hoạt
động một phần hoặc toàn thể Hiến pháp [5].
Trong chủ nghĩa Hiến pháp phải có Hiến
pháp. Nội dung của Hiến pháp phải chứa đựng
hai nội dung căn bản: Phân quyền, có thể là phân
quyền mềm dẻo tạo nên chế độ đại nghị, có thể là
phân quyền cứng rắn, như ở chế độ tổng thống;
hoặc sự phối kết hợp giữa hai loại phân quyền nói
trên tạo thành chính thể hỗn hợp.
Chủ nghĩa Hiến pháp/Constitutionalism
không đồng nghĩa với bản Hiến
pháp/Constitution, nếu như bản Hiến pháp
không có những nội dung cấu thành của chủ
nghĩa Hiến pháp như không có phân quyền,
không có nhân quyền, không có tư pháp độc lập
và nhất là bản hiến pháp đó không được tổ chức
thực thi trong thực tế, thì ở những quốc gia đó
có Hiến pháp, nhưng không có chủ nghĩa Hiến
pháp. Ngược lại ở nhà nước Anh quốc mặc dù
không có Hiến pháp thành văn, nhưng trên thực
tế với tập tục tôn trọng thực tế, và quá khứ,
những gì ăn sâu vào tiềm thức hành vi của
người Anh thì rất khó thay đổi. Họ luôn luôn
tôn trọng quá khứ, luôn luôn tuân thủ Hiến pháp
bất thành văn của họ. Đấy là tinh thần của chủ
nghĩa Hiến pháp bắt nguồn từ xưa của những
đạo luật thành văn và bất thành văn được hình
thành từ những năm giữa thiên niên kỷ trước
cho đến nay vẫn không thay đổi như: Luật đình
quyền giam giữ Habeas Corpus Act 1640, The
Bill of Rights 1689
Điểm khác cơ bản ở đây giữa chủ nghĩa
Hiến pháp và Hiến pháp ở hai điểm: i. Hiến
pháp ở chủ nghĩa Hiến pháp là bản Hiến pháp
có mục tiêu hạn chế quyền lực nhà nước, nên
nội dung của Hiến pháp phải chứa đựng sự
phân quyền và nhân quyền; ii. Nội dung của
bản hiến pháp này phải được thực thi trên thực
tế, sự vi phạm Hiến pháp phải được xét xử bằng
các Tòa án Hiến pháp.
Cả sự mơ hồ trong thuật ngữ hiến pháp lẫn
thực tế là không phải quốc gia nào có Hiến
pháp cũng đều tuân theo chế độ hợp hiến đã dẫn
đến sự tranh luận có tính học thuật, cho rằng
một số văn bản hiến pháp chỉ là Hiến pháp danh
nghĩa, giả mạo, hư cấu hay bề ngoài. Theo lối
nói này, một Hiến pháp được gọi là danh nghĩa
khi lời văn của nó mô tả chính xác, nhưng
không hạn chế, hành vi của chính phủ. Nói cách
khác, Hiến pháp danh nghĩa là một Hiến pháp
thành văn, cụ thể hóa một cách trung thực hiến
pháp bất thành văn của quốc gia, nhưng không
tuân theo các nguyên tắc khác của chế độ hợp
hiến. Mặt khác, một hiến pháp giả mạo, hư cấu
hoặc bề ngoài là một văn bản với những điều
khoản không đáp ứng thông lệ cầm quyền trên
thực tế. Sự định danh như vậy xuất phát từ quan
điểm cho rằng một chính phủ công bố công
khai cam kết của mình với chế độ hợp hiến
trong một Hiến pháp thành văn nhằm mục đích
đánh lạc hướng sự chú ý khỏi việc sử dụng
quyền lực một cách tuỳ tiện vốn là đặc điểm
của Hiến pháp bất thành văn của nước đó [6].
N.Đ. Dung / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 4 (2014) 1-9
4
Giữa chủ nghĩa Hiến pháp và lý thuyết về
nhà nước pháp quyền có mối quan hệ rất mật
thiết với nhau. Hầu hết những đòi hỏi của nhà
nước pháp quyền đều là những đòi hỏi của chủ
nghĩa Hiến pháp. Đó là những đặc điểm mọi
chủ thể mang quyền lực nhà nước đều phải
đứng dưới Hiến pháp là pháp luật, tổ chức
quyền lực nhà nước phải tuân theo nguyên tắc
phân quyền. Sự giới hạn và kiểm soát quyền
lực nhà nước đặt nhà nước dưới sự điều chỉnh
của pháp luật. Mọi hoạt động của nhà nước phải
dựa trên pháp luật, không được tùy tiện
Chính vì lẽ đó, không ít tác giả cho rằng chủ
nghĩa Hiến pháp là một phần cơ bản của nhà
nước pháp quyền, trong khi đó cũng không ít
tác giả lại cho rằng chủ nghĩa Hiến pháp là
tương đương với nhà nước pháp quyền [7].
Nhưng giữa chúng vẫn có sự khác nhau, tạo
nên sự khác nhau của hai học thuyết/ hai luận
thuyết chính trị. Nếu như ở chủ nghĩa Hiến
pháp nguồn gốc quyền lực nhà nước phải thuộc
về nhân dân, thì ở nhà nước pháp quyền thì lại
không là nhất thiết. Tư tưởng, lý thuyết về quan
hệ giữa quyền lực nhà nước và quyền lực của
nhân dân. Quyền lực nhà nước là do nhân dân
trao cho, có giới hạn và phải chịu sự kiểm soát.
Đó là những nội dung cốt yếu của chủ nghĩa
Hiến pháp. Trong khi đó nhà nước pháp quyền
lại gắn chặt chẽ với một xã hội dân sự.
Vấn đề kiểm soát quyền lực và trách nhiệm
của Nhà nước chỉ được giải quyết một cách triệt
để hơn và bài bản hơn, vì mục đích của sự bảo
đảm nhân quyền trong cách mạng tư sản. Càng
ngày kiểm soát và trách nhiệm của quyền lực
nhà nước càng trở nên gắn bó mật thiết với dân
chủ và sự kiểm soát này được quy định thành
luật, nhất là quy định của đạo luật có hiệu lực
pháp lý tối cao để cho mọi chủ thể nắm quyền
lực nhà nước phải chấp hành. Đó là Hiến pháp.
Sự hiện diện của Hiến pháp là một căn cứ căn
bản cho việc kiểm soát quyền lực của nhà nước,
khác với Nhà nước phong kiến nơi không tồn
tại hiến pháp.
Vì những lẽ đó, việc phải quy định về kiểm
soát quyền lực Nhà nước như là một quy luật
khách quan của sự phát triển xã hội, một khi mà
xã hội cần đến Nhà nước. Sự hiện diện của
những quy định trong Hiến pháp nhằm mục
đích kiểm soát hay là kiểm soát quyền lực nhà
nước là dấu hiệu của dân chủ, của tiến bộ xã hội.
Có như vậy mới thể hiện được tính nhân bản và xã
hội sâu sắc cần phải có của Hiến pháp.
2. Nội dung và các hình thức kiểm soát
quyền lực nhà nước
Tính đến tất cả các dấu hiệu nói trên, các
hình thức kiểm soát quyền lực có thể được phân
định gồm: Kiểm soát bên trong và kiểm soát
bên ngoài. Kiểm soát bên ngoài bao gồm các
biện pháp có tác động từ bên ngoài gồm: Kiểm
soát bằng lãnh thổ, kiểm soát bằng các điều ước
quốc tế và quan hệ quốc tế, kiểm soát bằng tự
do ngôn luận, tự do báo chí, kiểm soát bằng sự
tự trị của chủ thể hợp thành Nhà nước Kiểm
soát bên trong bao gồm các biện pháp tự nhiên,
mặc nhiên xuất phát từ những nội lực bên trong
có thể bao gồm: Kiểm soát bằng đạo đức, tâm
lý, thần quyền, kiểm soát quyền lực bằng bầu
cử và kiểm soát bên trong giữa các nhánh
quyền lực
Những vấn đề liên quan đến đạo đức, tâm
lý, thần quyền của kiểm soát quyền lực nhà
nước rất khó được quy định bằng pháp luật, chỉ
còn lại kiểm soát bằng bầu cử, bằng sự kiểm
soát lẫn nhau giữa các cành quyền lực là những
vấn đề có thể và cần phải quy định bằng pháp
luật, mà trước hết là Hiến pháp. Muốn kiểm
soát được quyền lực nhà nước thì trước hết
quyền lực nhà nước phải được phân ra, tức là
phân quyền, phân công, phân nhiệm giữa các
quyền theo cách quy định của hiến pháp Việt Nam.
N.Đ. Dung / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 4 (2014) 1-9 5
Trong tất cả các loại hình kiểm soát quyền
lực nhà nước, thì kiểm soát quyền lực nhà nước
từ bên trong là quan trọng nhất, và cũng là hiệu
quả nhất, đồng thời cũng ít tốn kém nhất.
Quyền lực nhà nước được quy định một cách
mặc nhiên, ai được sử dụng quyền lực nhà nước
cũng như vậy, đến đấy là dừng lại. Lập luận của
vấn đề đã được nêu ra rất rõ trong các phiên
tranh luận dự thảo Hiến pháp Mỹ quốc cách đây
gần 250 năm trước của nhiều nhà lập hiến Mỹ
quốc trong đó có J. Madison. Bởi vì những
người đảm nhiệm các công việc nhà nước
không có ai là thiên thần. Quyền lực nhà nước
cần phải phân ra và lấy quyền lực nọ hạn chế/
kiểm soát quyền lực kia [8]. Chính vì lẽ đó cho
nên không ít Nhà nước quan tâm và sử dụng
rộng rãi các loại hình kiểm soát này. Nội dung
căn bản của kiểm soát này là sự phân quyền
giữa các cơ quan nắm giữ quyền lực nhà nước.
Sự phân quyền và kìm chế đối trọng quyền lực
có thể được phân thành hai loại cơ bản: Phân
quyền ở chiều ngang và phân quyền ở chiều
dọc. Phân quyền ở chiều ngang là phân quyền
giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Phân quyền theo chiều dọc: Quyền lực nhà
nước được chế ước bằng việc phân quyền cho
địa phương và việc công nhận chế độ tự trị của
chính quyền địa phương. Phân quyền theo chiều
ngang giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp là quan trọng nhất.
Tiêu điểm của việc kiểm soát quyền lực nhà
nước là Chính phủ – cơ quan hành pháp – tiêu
điểm của kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên
trong. Sở dĩ như vậy, bởi vì trong tất cả các bộ
phận cấu thành nên quyền lực nhà nước kể từ
cơ quan lập pháp cho đến hành pháp và tư pháp,
chỉ có cơ quan hành pháp là thể hiện nguyên
hình nhà nước nhất. Tất cả các quyền hành từ
nhánh lập pháp cho đến tư pháp đều được chia
ra từ quyền tập trung của nhà Vua mà ra. Quyền
hành pháp là quyền còn lại sau khi đã được
phân chia cho lập pháp, cho tư pháp. Ngay cả
lập pháp mới chỉ được công nhận vào những
năm cuối cùng của cách mạng tư sản, trong
nhiều trường hợp, quyền này vẫn không được
gọi là quyền lực của Nhà nước. Chính phủ – Cơ
quan hành pháp phải chịu trách nhiệm bởi vì
hành pháp là cơ quan duy nhất nắm cả biên chế,
nắm cả ngân sách. Không ai bắt tội người
không có quyền hành phải chịu trách nhiệm.
Kiểm soát quyền lực nhà nước không
những chỉ được hiểu ở nghĩa chế ước phạm vi
hoạt động của chính quyền, mà còn được hiểu ở
nghĩa chính quyền phải chịu trách nhiệm về
những hành vi hoạt động của các quan chức nhà
nước. Trong hoàn cảnh của một nền hành chính
đại diện, tất cả các công chức dù do được bầu
hay không được bầu đều phải chịu trách nhiệm
về kết quả công việc mà mình phải thực hiện.
Điều này có nghĩa là sự liêm chính của các
chính trị gia và cả công chức dân sự phải được
bảo đảm, vì cả hai đối tượng này đều chịu trách
nhiệm trước công chúng và thường rất khó phân
biệt trước con mắt của công chúng sự khác
nhau giữa các chính trị gia và công chức hành
chính. Quảng đại quần chúng không có sự phân
biệt này và muốn cho chính phủ có trách nhiệm
hầu hết với các quyết định của các cơ quan nhà
nước mà không phân biệt quyết định của chính
trị gia và quyết định của công chức. Do vậy,
vấn đề trách nhiệm cần phải được hiểu bao gồm
trách nhiệm của tất cả các bộ phận cấu thành
chính phủ.
Chế độ trách nhiệm của chính phủ được
xuất hiện không phải ngày một, ngày hai trong
lịch sử của nhân loại, mà phải kéo dài hàng
chục năm trong lịch sử của Anh quốc, trong
thời gian diễn ra cách mạng tư sản Thế kỷ thứ
18 & 19, giữa chế độ chính trị phong kiến đang
ở giai đoạn chuyển tiếp từ Nhà nước phong
kiến vô trách nhiệm có quyền lực nhà nước vô
N.Đ. Dung / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 4 (2014) 1-9
6
hạn định sang một Nhà nước chế ước và phải
chịu trách nhiệm.
Có ba loại trách nhiệm chính phủ phải chịu
tương ứng với các loại phân quyền:
– Phân quyền mềm dẻo, Chính phủ phải
chịu trách nhiệm trước một Quốc hội – một hình
thức kiểm soát quyền lực nhà nước của nhà
nước tổ chức theo chế độ đại nghị kể cả của chế
độ đại nghị quân chủ như Anh quốc lẫn chế độ
cộng hòa đại nghị của Italia, CH Liên bang
Đức Đặc điểm mô hình kiểm soát quyền lực
nằm ở chỗ, giữa Chính phủ – hành pháp và
Quốc hội – lập pháp, không những phải chịu
trách nhiệm lẫn nhau, mà còn có thể can thiệp
sang nhau, như việc Chính phủ có quyền trình
dự án luật và Quốc hội có quyền giám sát và lật
đổ Chính phủ..
– Phân quyền cứng rắn, Chính phủ không
chịu trách nhiệm trước Quốc hội, mà phải chịu
trách nhiệm trước nhân dân – một hình thức
kiểm soát quyền lực nhà nước của các nhà nước
tổ chức theo chế độ tổng thống. Mô hình của
loại hình là Cộng hòa Tổng thống Mỹ quốc với
đặc điểm, nhân dân bầu ra Quốc hội – lập pháp,
nhân dân bầu ra cơ quan hành pháp. Sự phân
quyền cứng rắn này nằm ở chỗ giữa Quốc hội
và Chính phủ không những đều do dân bầu ra,
chúng không chịu trách nhiệm lẫn nhau, mà còn
thể hiện ở chỗ Chính phủ – hành pháp không
được trình dự án luật trước Quốc hội – lập pháp;
– Phân quyền hỗn hợp, Chính phủ – cơ quan
hành pháp phải chịu trách nhiệm trước Quốc
hội, Tổng thống – người đứng đầu nhà nước
cũng phải chịu trách nhiệm trước cử tri – một
hình thức khác của sự kiểm soát và phân chia
quyền lực nhà nước. Mô hình của chế độ này là
Pháp quốc, mà sau này được nhiều nhà nước tổ
chức theo sau khi hệ thống các nước xã hội chủ
nghĩa Đông Âu tan rã. Đặc điểm của mô hình
này nằm ở chỗ vừa có dấu ấn của chế độ địa
nghị vừa có dấu ấn của chế độ tổng thống. Tổng
thống, người đứng đầu nhà nước, có quyền trực
tiếp lãnh đạo hành pháp – Chính phủ, nhưng
Chính phủ này khác với Chính phủ của chế độ,
tổng thống phải chịu trách nhiệm trước Quốc
hội – lập pháp.
Một đặc điểm quan trọng trong quá trình
phát triển quyền lực nhà nước sau Cách mạng
tư sản là càng ngày càng mở rộng quyền hành
pháp. Nếu nhìn từ giác độ quan điểm thủa ban
đầu của cách mạng và của chế độ tư sản, Chính
phủ – Nhà nước tư sản chỉ là “người lính gác
đêm”, thì ngày nay, thậm chí ngay sau khi đã
giành được chính quyền, quan niệm trên đã thay
đổi. Thực tế không chỉ giản đơn như quan niệm
của các nhà cách mạng tư sản, cũng như những
quy định của Hiến pháp ngay sau khi cách
mạng tư sản giành được chính quyền, chính phủ
và các cơ quan hành pháp trở thành người tham
gia tích cực vào đời sống xã hội. Chính phủ
không chỉ thụ động duy trì các hoạt động của xã

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Hiến pháp phải là bản văn kiểm soát quyền lực nhà nước

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *