[block id=”bo-sung-1″]

Trong những năm gần đây, nền kinh tế nƣớc ta đã và đang mở cửa, hội
nhập với nền kinh tế thế giới đã mở ra những cơ hội phát triển cho các doanh
nghiệp. Việc này tạo ra cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trƣờng nhƣng cũng lại đặt ra những thách thức đối với doanh nghiệp. Để tồn
tại và ổn định đƣợc trên thị trƣờng đòi hỏi doanh nghiệp phải không ngừng vận
động, nâng cao tính tự chủ, năng động để tìm ra phƣơng thức kinh doanh có hiệu
quả tiết kiệm chi phí để đem lại lợi nhuận cao để từ đó mới có đủ sức cạnh tranh
với các doanh nghiệp cùng ngành.
Tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu chất lƣợng
phản ánh đích thực tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi doanh
nghiệp đã cố gắng tìm ra hƣớng kinh doanh để đem lại doanh thu cho doanh
nghiệp thì việc sử dụng những chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp phải hợp lý và tiết kiệm để phản ánh đúng tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, kết quả kinh
doanh là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, nó
liên quan chặt chẽ đến chi phí bỏ ra và lợi nhuận đem lại. Nhƣ vậy việc xác định
chi phí và tính giá thành sản phẩm đúng đắn sẽ giúp cho nhà lãnh đạo doanh
nghiệp đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh để từ đó đƣa ra những biện pháp
hữu hiệu nhằm nâng cao lợi nhuận.

khoa_luan_hoan_thien_to_chuc_ke_toan_tap_hop_chi_phi_san_xua
pdf117 trang | Chia sẻ: thuychi21 | Ngày: 02/12/2015 | Lượt xem: 1272 | Lượt tải: 1download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản lý chin phí sản xuất tại công ty TNHH Công Nghiệp Ắc Quy Hải Phòng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Đề Tài Tốt Nghiệp Đại Học Dân Lập Hải Phòng
SV: Nguyễn Thanh Nghị – Lớp: QT1203K 1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nƣớc ta đã và đang mở cửa, hội
nhập với nền kinh tế thế giới đã mở ra những cơ hội phát triển cho các doanh
nghiệp. Việc này tạo ra cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trƣờng nhƣng cũng lại đặt ra những thách thức đối với doanh nghiệp. Để tồn
tại và ổn định đƣợc trên thị trƣờng đòi hỏi doanh nghiệp phải không ngừng vận
động, nâng cao tính tự chủ, năng động để tìm ra phƣơng thức kinh doanh có hiệu
quả tiết kiệm chi phí để đem lại lợi nhuận cao để từ đó mới có đủ sức cạnh tranh
với các doanh nghiệp cùng ngành.
Tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu chất lƣợng
phản ánh đích thực tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi doanh
nghiệp đã cố gắng tìm ra hƣớng kinh doanh để đem lại doanh thu cho doanh
nghiệp thì việc sử dụng những chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp phải hợp lý và tiết kiệm để phản ánh đúng tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, kết quả kinh
doanh là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, nó
liên quan chặt chẽ đến chi phí bỏ ra và lợi nhuận đem lại. Nhƣ vậy việc xác định
chi phí và tính giá thành sản phẩm đúng đắn sẽ giúp cho nhà lãnh đạo doanh
nghiệp đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh để từ đó đƣa ra những biện pháp
hữu hiệu nhằm nâng cao lợi nhuận.
Xuất phát từ lý luận đồng thời kết hợp với thời gian thực tập tại Công ty
TNHH Công Nghiệp Ắc Quy Hải Phòng, đƣợc sự giúp đỡ của thầy giáo hƣớng
dẫn Th.s Phạm Văn Tƣởng và các cán bộ nhân viên trong phòng tài chính kế
toán của công ty đã giúp em nhận thức đƣợc tầm quan trọng của công tác tổ
chức kế toán tập hợp chi phí, tính giá thành sản phẩm. Do đó em đã chọn đề tài:
“Hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm nhằm tăng cường quản lý chin phí sản xuất tại công ty TNHH Công
Nghiệp Ắc Quy Hải Phòng”.
Đề Tài Tốt Nghiệp Đại Học Dân Lập Hải Phòng
SV: Nguyễn Thanh Nghị – Lớp: QT1203K 2
Khóa luận tốt nghiệp gồm ba phần:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại Công ty TNHH Công Nghiệp Ắc Quy Hải Phòng
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Công Nghiệp
Ắc Quy Hải Phòng
Vì thời gian thực tập có hạn, cùng với sự hiểu biết và trình độ nghiệp vụ
còn hạn chế bài viết của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em kính
mong các thầy cô chỉ bảo, để em hoàn thành tốt bài khóa luận này.
Em xin chân thành cám ơn!
Đề Tài Tốt Nghiệp Đại Học Dân Lập Hải Phòng
SV: Nguyễn Thanh Nghị – Lớp: QT1203K 3
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1. Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất
Sản xuất của cái vật chất là hoạt động cơ bản của xã hội loài ngƣời, đây
chính là điều kiện quyết định của sự tồn tại và phát triển trong mọi chế độ xã
hội. Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay hoạt động sản xuất của các doanh
nghiệp thực chất là việc sản xuất sản phẩm theo nhu cầu của thị trƣờng nhằm
mục đích kiếm lời. Để đạt đƣợc mục đích này doanh nghiệp phải bỏ ra những
chi phí nhất định. Do vậy, để tồn tại và phát triển kinh doanh mang lại lợi nhuận
thì buộc các doanh nghiệp phải giảm đến mức tối thiểu các chi phí của mình bỏ
ra trong quá trình sản xuất.
Chi phí là một phạm trù kinh tế quan trọng gắn liền với sản xuất và lƣu
thông hàng hóa. Đó là những hao phí lao động xã hội đƣợc biểu hiện bằng tiền
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Chi phí của doanh nghiệp là tát
cả các chi phí phát sinh gắn liền với doanh nghiệp trong quá trình hình thành,
tồn tại và hoạt động từ khâu mua nguyên vật liệu, tạo ra sản phẩm đến khi tiêu
thụ sản phẩm.
Chi phí sản xuất kinh doanh nói chung là toàn bộ các chi phí về lao động
sống, lao động vật hóa và các chi phí khác đƣợc biểu hiện bằng tiền phát sinh
trong quá trình sản xuất kinh doanh, trong một thời kỳ nhất định.
Chi phí sản xuất không những bao gồm yếu tố lao động yếu tố lao động
liên quan đến sử dụng lao động (tiền lƣơng, tiền công), lao động vật hóa (khấu
hao TSCĐ, chi phí về nguyên nhiên vật liệu) mà còn bao gồm một số khoản
thực chất là một phần giá trị mới sáng tạo ra ( nhƣ các khoản trích theo lƣơng:
BHXH, BHYT, KPCĐ; thuế GTGT không đƣợc khấu trừ).
Các chi phí của doanh nghiệp luôn đƣợc tính toán đo lƣờng bằng tiền và
gắng với một thời gian xác định là: tháng, quý, năm.
Đề Tài Tốt Nghiệp Đại Học Dân Lập Hải Phòng
SV: Nguyễn Thanh Nghị – Lớp: QT1203K 4
Độ lớn của chi phí là một đại lƣợng xác định và phụ thuộc vào hai nhân tố
chủ yếu: một là khối lƣợng lao dộng và tƣ liệu sản xuất đã tiêu hao vào sản xuất
trong một thời kỳ nhất định, hai là giá cả các tƣ liệu sản xuất đã tiêu dùng và tiền
công của một đơn vị lao động đã hao phí.
1.2. Bản chất và chức năng của giá thành sản phẩm
* Bản chất của giá thành sản phẩm
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, chi phí sản xuất mới chỉ là một mặt
thể hiện sự hao phí. Để đánh giá chất lƣợng sản xuất kinh doanh, chi phí chi ra
phải đƣợc xem xét trong mối quan hệ với mặt thứ hai, hiệu quả do nó mang lại,
từ quan hệ đó hình thành lên chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động sống,
lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khac tính cho một khối lƣợng hoặc một
đơn vị sản phẩm (công việc, lao vụ) do doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành.
Giữa giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất có sự giống và khác nhau.
Chi phí sản xuất hợp thành giá thành sản phẩm nhƣng không phải toàn bộ chi
phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều đƣợc tính vào giá thành sản phẩm trong kỳ.
Giá thành sản phẩm biểu hiện lƣợng chi phí sản xuất để hoàn thành việc sản xuất
một đơn vị hay một khối lƣợng sản phẩm nhất định.
Nhƣ vậy, giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế Tổng hợp, phả ánh
kết quả sử dụng tài sản, vật tƣ lao động và tiền vốn trong quá trình sản xuất,
cũng nhƣ tính đúng đắn của các giải pháp Tổ chức, kinh tế, kỹ thuật và công
nghệ mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả, năng suất lao động,
chất lƣợng sản xuất, hại thấp chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Giá
thành còn là một căn cứ quan trọng để đính giá bán và xác định hiệu quả kinh tế
của hoạt động sản xuất.
* Chức năng của giá thành sản phẩm
– Chức năng thước đo bù đắp chi phí: Giá thành biểu hiện những hao phí
vật chất mà các doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Những
hao phí vật chất này cần đƣợc bù đắp một cách đầy đủ, kịp thời để đảm bảo yêu
Đề Tài Tốt Nghiệp Đại Học Dân Lập Hải Phòng
SV: Nguyễn Thanh Nghị – Lớp: QT1203K 5
cầu tái sản xuất. Bù đắp hao phí sản xuất là vấn đề quan tâm đầu tiên của các
doanh nghiệp, bởi hiệu quả kinh tế đƣợc biểu hiện ra trƣớc hết ở chỗ doanh
nghiệp có khả năng bù lại những gì mình đã bỏ ra hay không.
– Chức năng lập giá: để thực hiện chức năng bù đắp chi phí thì khi xây
dựng giá phải căn cứ vào giá thành. Tuy nhiên, giá thành cá biệt của từng doanh
nghiệp không phải là cơ sở để xây dựng giá cả mà là giá thành bình quân của cả
ngành hoặc khu vực đƣợc sản xuất ra trong điều kiện trung bình của ngành hoặc
khu vực đó. Nhƣng việc xác định giá thành cá biệt ở từng doanh nghiệp lại có ý
nghĩa quan trọng cho công tác xác định giá thành bình quân. Trên thị trƣờng, các
hàng hóa đều phải bán theo một giá trị thống nhất đó là giá cả thị trƣờng.
– Chức năng đòn bảy kinh tế: lợi nhuận của doanh nghiệp cao hay thấp
phụ thuộc trực tiếp vào giá thành. Hạ thấp giá thành bằng cách cải tiến công
nghệ sản xuất, Tổ chức lao động khoa học là biện pháp cơ bản để tăng cƣờng
lợi nhuận, tạo tích lũy để tái sản xuất mở rộng.
1.3. Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất bao gồm các khoản chi có nội dung, công dụng và mục
đích sử dụng khác nhau. Vì vậy để quản lý chi phí đƣợc chặt chẽ, theo dõi và
hạch toán chi phí một cách có hệ thống, nâng cao chất lƣợng công tác kiểm tra
và phân tích kinh tế trong các doanh nghiệp, cần phải phân loại chi phí theo các
tiêu thực thích hợp. Tùy theo việc xem xét chi phí ở các góc độ khác nhau và
mục đích quản lý chi phí mà chi phí sản xuất đƣợc phân loại theo các tiêu thức
khác nhau.
1.3.1. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí.
Phân loại theo cách này chi phí đƣợc phân thành 5 yếu tố:
– Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ chi phí về các loại đối tƣợng
lao động là nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu phụ tùng thay thế, vật
liệu, thiết bị xây dựng cơ bản.
– Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ các chi phí phải trả cho ngƣời lao
động (thƣờng xuyên hay tạm thời) về tiền lƣơng, tiền công, các khoản phụ cấp,
Đề Tài Tốt Nghiệp Đại Học Dân Lập Hải Phòng
SV: Nguyễn Thanh Nghị – Lớp: QT1203K 6
trợ cấp có tính chất lƣơng trong kì báo cáo, các khoản trích theo lƣơng (KPCĐ,
BHYT, BHXH).
– Chi phí khấu hao tài sản cố định: là toàn bộ số phải trích khấu hao trong
kỳ đối với tất cả các loại tài sản cố định trong doanh nghiệp.
– Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền trả về các loại dịch vụ mua ngoài
phục vụ hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp.
– Chi phí bằng tiền khác: bao gồm các chi phí sản xuất kinh doanh chƣa
đƣợc phản ánh ở các chỉ tiêu trên đã chi bằng tiền trong kì báo cáo nhƣ: tiếp
khách, hội hợp, thuê quảng cáo
Cách phân loại này có tác dụng quan trọng đối với việc quản lý chi phí
của lĩnh vực sản xuất bởi nó cho phép doanh nghiệp hiểu rõ cơ cấu, tỷ trọng
từng yếu tố chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong kì sản xuất kinh doanh, để
lập thuyết minh báo cáo tài chính nhằm phân tích đánh giá tình hình thực hiện
dự toán chi phí sản xuất đồng thời lập dự toán chi phí cho kì sau.
1.3.2. Phân loại chi phí theo khoản mục chi phí.
Theo cách phân loại này toàn bộc hi phí sản xuất đƣợc chia thành ba
khoản mục sau:
– Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm chi phí về nguyên vật liệu
chính, vật liệu phụ sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm.
– Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm các khoản phải trả cho ngƣời lao
động trực tiếp sản xuất sản phẩm, dịch vụ nhƣ: lƣơng, các khoản phụ cấp lƣơng,
tiền ăn giữa ca và các khoản trích theo lƣơng (KPCĐ, BHXH, BHYT).
– Chi phí sản xuất chung: gồm những chi phí phát sinh tại bộ phần sản
xuất (phân xƣởng, đội, trại sản xuất) ngoài hai khoản mục trên. Chi phí sản
xuất chung bao gồm:
+ Chi phí nhân viên phân xưởng: gồm các khoản tiền lƣơng, các
khoản phụ cấp, các khoản trích theo lƣơng, tiền ăn giữa ca của nhân viên quản lí
phân xƣởng, đội, bộ phận sản xuất.
Đề Tài Tốt Nghiệp Đại Học Dân Lập Hải Phòng
SV: Nguyễn Thanh Nghị – Lớp: QT1203K 7
+ Chi phí vật liệu: gồm những chi phí vật liệu dùng chung cho phân
xƣởng: vật liệu dùng để sửa chữa, bảo dƣỡng tài sản cố định, vật liệu văn phòng
phân xƣởng và những vật liệu dùng cho nhu cầu quản lý chung ở phân xƣởng.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: gồm những chi phí công cụ dụng cụ
xuất dùng cho hoạt động quản lí của phân xƣởng nhƣ: khuôn mẫu, dụng cụ cầm
tay, dụng cụ bảo hộ lao động, dụng cụ xây lắp.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao
TSCĐ sƣ dụng trong phân xƣởng nhƣ: máy móc thiết bị sản xuất, phƣơng tiện
vận tải, truyền đẫn, nhà xƣởng
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài
phục vụ hoạt động của phân xƣởng, bộ phận sản xuất nhƣ: chi phí điện, nƣớc,
điện thoại, các khoản chi mua và sử dụng các tài liệu lỹ thuật, bằng sáng chế,
giấy phép chuyển giao công nghệ, nhãn hiệu thƣơng mại
+ Chi phí bằng tiền khác: gồm các chi phí bằng tiền khác ngoài các
chi phí đã kể trên phục vụ cho hoạt động của phân xƣởng.
Cách phân loại này có tác dụng phục vụ cho việc quản lý chi phí sản xuất
theo định mức, là cơ sỏ cho kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
theo khoản mục chi phí, nó cũng là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế
hoạch đã đề ra và lập định mức chi phí sản xuất cho kỳ sau.
1.3.3. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với quy mô sản xuất.
Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất đƣợc chia thành hai loại:
– Chi phí biến đổi (biến phí): là những chi phí có sự thay đổi trực tiếp về
lƣợng tƣơng quan tỷ lệ thuận với sự thay đổi của khối lƣợng sản phẩm sản xuất
trong kỳ hay quy mô sản xuất nhƣ: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp, chi phí hoa hồng bán hàng, chi phí điện nƣớc
– Chi phí cố định (định phí): là những chi phí không thay đổi (hoặc thay
đổi không đáng kể) về Tổng số khi có sự thay đổi khối lƣợng sản phẩm sản xuất
trong mức độ nhất định nhƣ: chi phí khấu hao tài sản cố định theo phƣơng pháp
Đề Tài Tốt Nghiệp Đại Học Dân Lập Hải Phòng
SV: Nguyễn Thanh Nghị – Lớp: QT1203K 8
bình quân, chi phí tiền lƣơng phải trả cho cán bộ, nhân viên quản lý, chi phí tài
sản, văn phòng.
1.3.4. Phân loại chi phí theo lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo lĩnh vực kinh doanh của các chi phí phát sinh trong quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc phân thành:
– Chi phí sản xuất: gồm chi phí lien quan đến việc chế tạo sản phẩm hoặc
thực hiện những công việc dịch vụ trong phạm vi phân xƣởng.
– Chi phí bán hàng: là những chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ
sản phẩm, hang hóa, dịch vụ.
– Chi phí quản lý: gồm các chi phí phục vụ cho việc quản lý, điều hành
hoạt động sản xuất kinh doanh và các chi phí phục vụ sản xuất chung phát sinh ở
doanh nghiệp.
– Chi phí tài chính: gồm các khoản chi phí liên quan đến các hoạt động
đầu tƣ tài chính, liên doanh, liên kết, cho vay, cho thuê tài sản
– Chi phí khác: gồm các chi phí liên quan đến các hoạt động khác chƣa
đƣợc kể ở trên.
1.3.5. Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí và mối
quan hệ với đối tượng chịu chi phí.
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất đƣợc chia thành hai loại:
– Chi phí trực tiếp:là những chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với việc
sản xuất ra một loại sản phẩm, một công việc nhât định. Những chi phí này kế
toán có thể căn cứ vào số liệu, chứng từ kế toán đề ghi trực tiếp vào từng đối
tƣợng chịu chi phí.
– Chi phí gián tiếp: là những chi phí sản xuất có liên quan đến việc sản
xuất ra nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc. Những chi phí này kế toàn phải
tiến hành phân bổ cho các đối tƣợng có liên quan theo một tiêu chuẩn thích hợp.
1.4. Phân loại giá thành sản phẩm
1.4.1. Phân loại giá thành sản phẩm theo thời điểm tính giá thành.
Theo cách phân lọa này, giá thành sản phẩm đƣợc chia thành ba loại:
Đề Tài Tốt Nghiệp Đại Học Dân Lập Hải Phòng
SV: Nguyễn Thanh Nghị – Lớp: QT1203K 9
– Giá thành kế hoạch: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí
sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Việc tính giá thành kế hoạch do bộ
phận kế hoạch của doanh nghiệp thực hiện và đƣợc tính trƣớc khi bắt đầu quá
trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của
doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế
hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp.
– Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các
định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Giá thành định
mức đƣợc xem đƣợc xem nhƣ thƣớc đo chính xác để xác định kết quả sử dụng
các loại tài sản, vật tƣ, tiền vốn trong doanh nghiệp, giúp cho viêc đánh giá đúng
đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình
hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiêu quả kinh doanh. Cũng giống nhƣ giá
thành kế hoạch, giá thành định mức cũng đƣợc tiến hành trƣớc khi sản xuất chế
tạo sản phẩm.
– Giá thành thực tế: là giá thành được tính trên cơ sở số liệu chi phí sản
xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ và sản lượng sản phẩm thực
tế đã sản xuất ra trong kỳ. Giá thành thực tế chỉ có thể tính toán đƣợc sau khi
nh sản xuất, chế tạo sản phẩm đƣợc tính toán cho cả chỉ tiêu Tổng
giá thành và giá thành đơn vị. Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế Tổng hợp,
phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong quá trình Tổ chức và sử dụng
các giải pháp kinh tế, kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ
sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và
nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nƣớc cũng nhƣ các đối tác liên doanh,
liên kết.
1.4.2. Phân loại giá thành theo phạm vi phát sinh chi phí.
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm đƣợc chia thành hai loại:
– Giá thành sản xuất( giá thành công xưởng): Giá thành sản xuất của sản
phẩm bao gồm các chi phí sản xuất, chế tạo sản phẩm (chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản chung) tính cho những sản
Đề Tài Tốt Nghiệp Đại Học Dân Lập Hải Phòng
SV: Nguyễn Thanh Nghị – Lớp: QT1203K 10
phẩm, công việc hoặc lao vụ đã hoàn thành. Giá thành sản xuất của sản phẩm
đƣợc sử dụng ghi sổ cho sản phẩm đã hoàn thành nhập kho hoặc giao thẳng cho
khách hàng, đồng thời là căn cứ để tính giá vốn hàng bán và lãi gộp trong kỳ ở
các doanh nghiệp.
– Giá thành toàn bộ (giá thành tiêu thụ): là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các
chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm bao gồm giá
thành sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản
phẩm đó.
Giá thành toàn bộ chỉ đƣợc tinh toán khi sản phẩm đƣợc xác định là tiêu thụ. Nó
là căn cứ để tính lãi trƣớc thuế của doanh nghiệp.
1.5. Đối tƣợng hạch toán chi phí sản xuất, đối tƣợng tính giá thành của sản
phẩm và kỳ tính giá thành sản phẩm.
1.5.1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất.
Đối tƣợng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn các chi phí phát
sinh trong kỳ cần đƣợc tập hợp theo các phạm vi, giới hạn đó nhừm đáp ứng nhu
cầu kiểm tra, phân tích chi phí và yêu cầu tính giá thành sản phẩm. Việc xác
định đối tƣợng hạch toán chi phí sản xuất thực chất là xác định nơi phát sinh chi
phí và đối tƣợng chịu chi phí. Xác định đối tƣợng tập hợp chi phí sản xuất là
khâu dầu tiên cần thiết của công tác kế toán chi phí sản xuất. Xác định đúng đối
tƣợng tập hợp chi phí sản xuất thì mới có thể đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí
sản xuất, Tổ chức tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất từ khâu ghi chép
sản xuất ban đầu, Tổng hợp số liệu, mở và ghi sổ kế toán.
Để xác định đối tƣợng hạch toán chi phí sản xuất cần căn cứ vào các đặc
điểm:
* Căn cứ vào đặc điểm Tổ chức sản xuất của doanh nghiệp:
+ Trƣờng hợp doanh nghiệp Tổ chức thành phân xƣởng nhƣng trong phân
xƣởng đó lại sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau, có quy trinh riêng biệt thì
đối tƣợng thích hợp là từng phân xƣởng, trong đó chi tiết cho từng loại sản phẩm
khac nhau.
Đề Tài Tốt Nghiệp Đại Học Dân Lập Hải Phòng
SV: Nguyễn Thanh Nghị – Lớp: QT1203K 11
+ Trƣờng hợp những doanh nghiệp không tổ chức thành phân xƣởng mà
có quy trình công nghệ khép kín thì đối tƣợng thích hợp là toàn bộ quy trình
công nghệ.
* Căn cứ vào quy trình công nghệ sản xuất, chế tạo sản phẩm:
+ Nếu doanh nghiệp có quy trình sản xuất giản đơn, sản phẩm không qua
giai đoạn chế biến thì toàn bộ quy trình công nghệ là một đối tƣợng tập hợp chi
phí.
+ Nếu doanh nghiệp có quy trình công nghệ phức tạp kiểu liên tục hay
kiểu song song thì đối tƣợng thích hợp là từng giai đoạn của quy trình công nghệ
(từng phân xƣởng).
1.5.2. Đối tượng tính giá thành sản phẩm.
Để tính đƣợc giá thành sản phẩm thì công việc đầu tiên là phải xác định
đƣợc đối tƣợng tính giá thành sản phẩm. Đối tƣợng tính giá thành trong doanh
nghiệp sản xuất là những sản phẩm, công việc, lao vụ

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Khóa luận Hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản lý chin phí sản xuất tại công ty TNHH Công Nghiệp Ắc Quy Hải Phòng

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *