[block id=”bo-sung-1″]

Isaac Bashevis Singer (1904 –1991) là nhà văn sáng tác bằng tiếng Yiddish
đầu tiên trên thế giới vinh dự nhận giải thưởng Nobel Văn học năm 1978. Chỉ
tính tới năm 1968, “tác phẩm của ông đã được dịch sang 58 thứ tiếng trên thế
giới” [59,38]. I.B. Singer thành công ở nhiều thể loại khác nhau như tiểu thuyết,
truyện ngắn, hồi kí, phê bình. Trong đó, tài năng của ông thực sự tỏa sáng và đạt
tới đỉnh cao hơn cả là ở địa hạt truyện ngắn. Một trong những điều làm nên sức
hấp dẫn trong truyện ngắn I.B. Singer chính bởi nghệ thuật kể chuyện, ông “đã
cống hiến phần tinh tế nhất của mình trong vai trò người kể chuyện kiệt xuất”
[135] và trở thành “một tài năng xuất chúng”, “một trong những tác giả xuất sắc
nhất của văn xuôi hư cấu Mĩ đương thời” [106,1]. Với những đóng góp ở thể loại
truyện ngắn, I.B. Singer được vinh danh “tài năng văn chương” [109,bìa 4],
“pháp sư truyện kể”, “người kể chuyện tài hoa” [106,312], “người kể chuyện có
một không hai” [135]. Nghiên cứu truyện ngắn I.B. Singer góp phần làm sáng tỏ
hơn những đóng góp của ông đối với truyện ngắn Mĩ nói riêng và thể loại truyện
ngắn nói chung

uan_an_co_mau_trong_truyen_ngan_isaac_bashevis_singer

 

pdf187 trang | Chia sẻ: tranhieu.10 | Ngày: 26/07/2018 | Lượt xem: 396 | Lượt tải: 3download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Cổ mẫu trong truyện ngắn isaac bashevis singer, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHAṂ HÀ NÔỊ
–––––––o0o–––––––
VŨ MINH ĐỨC
CỔ MẪU TRONG TRUYỆN NGẮN
ISAAC BASHEVIS SINGER
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã số: 62.22.02.45
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn: GS.TS Lê Huy Bắc
TS Nguyễn Văn Bao
HÀ NỘI – 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Những kết quả nghiên cứu trong Luận án là trung
thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ một công trình
nào khác.
Tác giả luận án
Vũ Minh Đức
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS Lê Huy Bắc và TS Nguyễn Văn Bao đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình tôi hoàn thành
luận án.
Tôi chân thành cảm ơn Khoa Ngữ Văn, Bộ môn Văn học nước ngoài, Phòng
Sau đại học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi
hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình.
Tôi chân thành cảm ơn Bộ môn Lí luận văn học – Văn học nước ngoài, Khoa
Ngữ văn, Phòng Sau đại học, Trường Đại học Tây Bắc đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi và giúp đỡ, chia sẻ để tôi hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy cũng như công việc
học tập.
Cảm ơn gia đình, bạn bè, những người luôn ở bên tôi những lúc khó khăn
nhất. Cảm ơn Bố luôn tin tưởng và ủng hộ những lựa chọn của con!
Kính dâng hương hồn MẸ!
Hà Nội, tháng 01 năm 2018
Tác giả
Vũ Minh Đức
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………………………………………… 1
1. Lí do chọn đề tài …………………………………………………………………………………………………………….. 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ………………………………………………………………………………. 2
2.1. Mục đích nghiên cứu ……………………………………………………………………… 2
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu …………………………………………………………………….. 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ……………………………………………………………………………………. 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu ……………………………………………………………………. 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu ………………………………………………………………………. 3
4. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………………………………………………………… 13
5. Đóng góp của luận án ………………………………………………………………………………………………….. 15
6. Cấu trúc luận án ………………………………………………………………………………………………………….. 15
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ ………………………………………………… 16
1.1. Nghiên cứu truyện ngắn I.B. Singer ……………………………………………………………………….. 16
1.1.1. Nghiên cứu truyện ngắn I.B. Singer ở nước ngoài ………………………… 16
1.1.2. Nghiên cứu truyện ngắn I.B. Singer ở Việt Nam …………………………… 35
1.2. Nghiên cứu cổ mẫu trong truyện ngắn I.B. Singer ……………………………………………….. 39
1.2.1. Nghiên cứu cổ mẫu trong truyện ngắn I.B. Singer ở nước ngoài ……. 40
1.2.2. Nghiên cứu cổ mẫu trong truyện ngắn I.B. Singer ở Việt Nam ……….. 43
Tiểu kết chương 1 ……………………………………………………………………………………………………………. 44
Chương 2: CỔ MẪU MẸ ………………………………………………………………………………………………. 46
2.1. Mẹ hiền ………………………………………………………………………………………………………………………. 47
2.1.1. Suối nguồn yêu thương ……………………………………………………………………………………………. 47
2.1.2. Sự cứu rỗi và tái sinh ………………………………………………………………… 54
2.2. Mẹ khủng khiếp ……………………………………………………………………………………………………….. 58
2.2.1. Dâm đãng ………………………………………………………………………………… 59
2.2.2. Cám dỗ ……………………………………………………………………………………. 64
2.2.3. Phù thủy ………………………………………………………………………………….. 68
Tiểu kết chương 2 ……………………………………………………………………………………………………………. 73
Chương 3: CỔ MẪU HÀNH TRÌNH ………………………………………………………………………….. 75
3.1. Thiên đường trần thế ……………………………………………………………………………………………….. 77
3.1.1. Miền đất hứa ……………………………………………………………………………………………………………. 77
3.1.2. Giấc mơ nước Mĩ ……………………………………………………………………… 80
3.2. Thiên đường tình ái ………………………………………………………………………………………………….. 82
3.2.1. Bản giao kèo tình ái ………………………………………………………………….. 83
3.2.2. Bản hợp đồng lưỡng giới …………………………………………………………… 90
3.3. Thánh đường bản thể ………………………………………………………………………………………………. 97
3.3.1. Mặt nạ của Chúa………………………………………………………………………. 97
3.3.2. Đường về bản thể ……………………………………………………………………. 103
Tiểu kết chương 3 …………………………………………………………………………………………………………. 105
Chương 4: CỔ MẪU LƯU ĐÀY ……………………………………………………………………………….. 107
4.1. Ngôn ngữ lưu đày ………………………………………………………………………………………………….. 110
4.1.1. Hỗn độn ngôn ngữ và xung đột bản sắc …………………………………….. 110
4.1.2. Ngôn ngữ Yiddish và bản sắc thiểu số ……………………………………….. 113
4.2. Lưu đày tha nhân ………………………………………………………………………………………………….. 117
4.2.1. Kẻ bên lề cuộc sống ………………………………………………………………… 117
4.2.2. Lạc ở Mĩ ………………………………………………………………………………… 124
4.3. Lưu đày bản ngã ……………………………………………………………………………………………………. 131
Tiểu kết chương 4 …………………………………………………………………………………………………………. 145
KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………………………………………… 146
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN …… 151
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………….. 152
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Isaac Bashevis Singer (1904 –1991) là nhà văn sáng tác bằng tiếng Yiddish
đầu tiên trên thế giới vinh dự nhận giải thưởng Nobel Văn học năm 1978. Chỉ
tính tới năm 1968, “tác phẩm của ông đã được dịch sang 58 thứ tiếng trên thế
giới” [59,38]. I.B. Singer thành công ở nhiều thể loại khác nhau như tiểu thuyết,
truyện ngắn, hồi kí, phê bình. Trong đó, tài năng của ông thực sự tỏa sáng và đạt
tới đỉnh cao hơn cả là ở địa hạt truyện ngắn. Một trong những điều làm nên sức
hấp dẫn trong truyện ngắn I.B. Singer chính bởi nghệ thuật kể chuyện, ông “đã
cống hiến phần tinh tế nhất của mình trong vai trò người kể chuyện kiệt xuất”
[135] và trở thành “một tài năng xuất chúng”, “một trong những tác giả xuất sắc
nhất của văn xuôi hư cấu Mĩ đương thời” [106,1]. Với những đóng góp ở thể loại
truyện ngắn, I.B. Singer được vinh danh “tài năng văn chương” [109,bìa 4],
“pháp sư truyện kể”, “người kể chuyện tài hoa” [106,312], “người kể chuyện có
một không hai” [135]. Nghiên cứu truyện ngắn I.B. Singer góp phần làm sáng tỏ
hơn những đóng góp của ông đối với truyện ngắn Mĩ nói riêng và thể loại truyện
ngắn nói chung.
I.B. Singer “đứng bên cây đời và kể”, do đó, truyện ngắn của ông được cắm
rễ bền chặt vào kho tàng văn hóa dân gian Do Thái và nằm trong vùng tỏa bóng
của vô thức tập thể. Dẫu viết về những con người của cuộc sống hiện tại, nhưng
bằng cách này hay cách khác, tác phẩm của ông luôn hoài nhớ về những trải
nghiệm của dân tộc mình. Nói cách khác, I.B. Singer thăng hoa sáng tạo trong sự
kết nối với mạch nguồn Do Thái thông qua hệ thống cổ mẫu được lưu giữ trong
vô thức tập thể (collective unconscious). Vì vậy, nghiên cứu truyện ngắn I.B.
Singer từ góc nhìn lí thuyết cổ mẫu góp phần chỉ ra mẫu số chung của cổ mẫu
trong truyện ngắn I.B. Singer và các cổ mẫu nguyên thủy, đồng thời làm nổi bật
những cổ mẫu phái sinh trong truyện ngắn I.B. Singer để thấy được tài năng tái
tạo/ phục sinh và “thời sự hóa” [15,192] những cổ mẫu nguyên thủy.
Chúng tôi đã có những trải nghiệm ban đầu với thế giới truyện ngắn I.B.
Singer qua luận văn thạc sĩ Cổ mẫu trong “Tuyển tập truyện ngắn Isaac
Bashevis Singer” tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2014. Có thể nói,
thực hiện nghiên cứu cổ mẫu trong truyện ngắn I.B. Singer ở luận văn thạc sĩ
2
như quá trình tìm đường với những bước dò dẫm không chỉ giúp chúng tôi có
kinh nghiệm và phương pháp nghiên cứu cổ mẫu, mà còn giúp chúng tôi vững
tin và say mê hơn để tiếp tục dấn thân vào hành trình đầy hứa hẹn làm phát lộ
kho cổ mẫu trong truyện ngắn của ông với một trữ lượng vô cùng lớn.
Nghiên cứu cổ mẫu ở I.B. Singer còn góp phần tạo lập hướng nghiên cứu
hữu ích đối với thể loại truyện ngắn. Đồng thời luận án cũng đề xuất một mảng
tư liệu cần thiết cho giảng dạy văn học Mĩ, đặc biệt là I.B. Singer, trong trường
Đại học Việt Nam.
Tất cả lí do trên là căn cứ khoa học cho phép chúng tôi thực hiện đề tài: Cổ
mẫu trong truyện ngắn Isaac Bashevis Singer.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn đề tài này, luận án đặt ra những mục đích sau:
Xác định những luận điểm cơ bản của khái niệm cổ mẫu và đặc điểm của cổ mẫu
trong văn học. Từ lí thuyết cổ mẫu, chúng tôi tiếp cận, nhận diện và kiến giải hệ thống
cổ mẫu trong truyện ngắn I.B. Singer. Với kết quả nghiên cứu của luận án, chúng tôi hi
vọng cung cấp cái nhìn khái quát về lí thuyết cổ mẫu và phê bình cổ mẫu.
Phân tích ý nghĩa, giá trị của các cổ mẫu trong việc thể hiện tư tưởng chủ
đề, cũng như quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của I.B. Singer, vì
suy cho cùng mọi sáng tạo về nghệ thuật đều thể hiện một chiều sâu tư tưởng về
cuộc đời.
Giải mã cổ mẫu trong truyện ngắn của I.B. Singer, luận án khám phá và xác
định những nét đặc sắc trong nghệ thuật truyện ngắn I.B. Singer, khẳng định vị
trí và đóng góp đối với nền văn học Mĩ, văn học Do Thái và văn học thế giới.
Xuất phát từ những nghiên cứu về I.B. Singer trên thế giới và trong nước, luận
án sẽ cập nhật những kết quả mới nhất về ông. Qua đó, kết quả nghiên cứu của luận
án sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu truyện ngắn ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, luận án xác định những nhiệm vụ nghiên
cứu sau:
Xác định nội hàm khái niệm cổ mẫu trong nghiên cứu phê bình cổ mẫu, xác
định những đặc điểm cơ bản của cổ mẫu văn học.
3
Khảo sát, nhận diện, phân tích và lí giải những nét đặc thù trong hệ thống cổ
mẫu của I.B. Singer. Luận án tập trung vào 3 kiểu cổ mẫu tiêu biểu: cổ mẫu Mẹ, cổ
mẫu Hành trình, cổ mẫu Lưu đày.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án giới hạn ở việc tìm hiểu cổ mẫu trong truyện ngắn Isaac Bashevis
Singer. Tên đề tài của luận án Cổ mẫu trong truyện ngắn Isaac Bashevis Singer có
thể được dịch ra tiếng Anh là: Archetypes in Isaac Bashevis Singer’s Short Stories.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Phạm vi khảo sát
Phạm vi khảo sát của luận án là 11 tập truyện ngắn bằng tiếng Anh của I.B.
Singer được chính nhà văn cùng một số dịch giả uy tín chuyển ngữ từ tiếng
Yiddish:
– Singer I.B. (1964), Short Friday, Farrar, Straus and Giroux, New York.
– Singer I.B. (1968), The Séance, Farrar, Straus and Giroux, New York.
– Singer I.B. (1970), A Friend of Kafka and Other Stories, Farrar, Straus
and Giroux, New York.
– Singer I.B. (1975), Passions, Farrar, Straus and Giroux, New York.
– Singer I.B. (1979), Old Love, Farrar, Straus and Giroux, New York.
– Singer I.B. (1980), Gimpel the Fool, Farrar, Straus and Giroux, New York.
– Singer I.B. (1984), A Crown of Feathers, Farrar, Straus and Giroux, New York.
– Singer I.B. (1984), The Spinoza of Market Street, Farrar, Straus and
Giroux, New York.
– Singer I.B. (1985), The Image and Other Stories, Farrar, Straus and
Giroux, New York.
– Singer I.B. (1988), The Death of Methuselah and Other Stories, Farrar,
Straus and Giroux, New York.
– Singer I.B. (1996), Isaac Bashevis Singer Collected Stories, Farrar, Straus
and Giroux, New York.
4
3.2.2. Phạm vi lí thuyết
3.2.2.1. Khái niệm Cổ mẫu
Cổ mẫu (archetype) còn được dịch thành những tên gọi khác như: siêu mẫu,
mẫu gốc, nguyên sơ tượng, mẫu cổ, nguyên mẫu, nguyên tượng Xét về mặt từ
nguyên, archetype có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp: ārche – khởi đầu và typos –
dấu vết/ vết in/ vết hằn [91,30].
Thuật ngữ cổ mẫu liên quan trực tiếp tới lí thuyết vô thức tập thể của nhà
Tâm phân học người Thụy Sĩ Carl Gustav Jung. Jung coi cổ mẫu như những đơn
vị vận hành tạo nên vô thức tập thể, là “những cấu trúc tinh thần đồng nhất mà
tất cả đều có” [DT 27,80-81]. Có thể nói, những phát hiện vô thức tập thể và cổ
mẫu đã khẳng định những bước tiến vượt bậc C.G. Jung so với người thầy của
mình – Sigmund Freud. Song cũng cần thấy, hướng đi của Jung không hề mâu
thuẫn hay phủ nhận vô thức cá nhân trong lí thuyết phân tâm học cổ điển của
Freud, mà là kế thừa và phát triển.
Thứ nhất, cổ mẫu là những “trung tâm thần kinh – tâm thần bẩm sinh, sở
hữu khả năng khởi xướng, kiểm soát và làm trung gian cho những đặc điểm
hành vi, những kinh nghiệm điển hình của toàn bộ loài người”. Vô thức
(unconscious) trước hết được giới hạn trong ý nghĩa chỉ trạng thái của những
nội dung bị quên lãng hay bị trấn áp, kìm nén và kiểm duyệt, là “toàn thể
những hiện tượng tâm thần mà ý thức không đạt đến một cách tạm thời hay
vĩnh viễn” [29,35]. Cả Jung và Freud đều thừa nhận vai trò của vô thức trong
hệ tâm thức của con người. Freud mới chỉ khám phá và thừa nhận sự tồn tại
của vô thức cá nhân như những xung năng libido bị dồn nén, libido theo cách
hiểu của ông đơn thuần chỉ là bản năng tính dục (Eros instinct), thì Jung đã
thấy xung năng ở con người còn bao gồm các dạng bản năng khác như bản
năng hủy hoại/ bản năng chết (death instinct) Nhưng nếu Freud coi vô thức
cá nhân là yếu tố chi phối mọi hành vi của con người, thì Jung nhận thấy vô
thức tập thể mới là nhân tố trung tâm “chịu trách nhiệm hợp nhất toàn bộ
nhân cách vào một thể thống nhất” [27,81].
5
Ý thức
Vô thức
Hình 1: Sơ đồ Cấu trúc tâm thức người
Jung thể hiện hệ tâm thức con người bao gồm hai bộ phận là Ý thức
(Conscious) và Vô thức (Unconscious) được cấu trúc theo hình tam giác càng
lúc nở rộng đáy.
Trong công trình Archetypes and the Collective Unconscious (Cổ mẫu và
vô thức tập thể), Jung viết: “Không ít thì nhiều, tầng mặt của vô thức dứt khoát
thuộc về cá nhân. Tôi gọi nó là vô thức cá nhân (personal unconscious). Nhưng
vô thức cá nhân này dựa vào một tầng sâu hơn, tầng này không bắt nguồn từ
kinh nghiệm cá nhân và không phải là cái đạt được thuộc cá nhân mà là bẩm
sinh. Tầng sâu hơn này, tôi gọi là vô thức tập thể (collective unconscious). Tôi
chọn thuật ngữ “tập thể” (collective) bởi phần vô thức này không mang tính cá
biệt mà có tính phổ quát” [78,3]. Và “Sự hiện diện tâm thức có thể được nhận ra
chỉ bằng sự hiện diện của các nội dung mà những nội dung này có khả năng ý
thức được (capable of conscious). Bởi vậy, chúng ta có thể nói về vô thức cá
nhân chỉ trong phạm vi ta có thể kiến giải được những nội dung của nó. Những
nội dung của vô thức cá nhân chủ yếu là cảm xúc – phức cảm biến hóa đa dạng
(the feeling – toned complexes), như chúng được gọi; chúng tạo nên đời sống
tâm lí riêng tư và cá nhân. Những nội dung của vô thức tập thể, mặt khác, được
biết đến như là những cổ mẫu” [78,4].
Mặc cảm cá nhân và mặc cảm tập thể đều có “quá khứ” tuy nhiên điểm
khác biệt giữa chúng chỉ ở mức độ ảnh hưởng. Trong Thăm dò tiềm thức, Jung
viết: “Cũng như mặc cảm cá nhân, mặc cảm tập thể thuộc về siêu tượng cũng có
6
một quá khứ. Nhưng mặc cảm cá nhân chỉ gây những ngang trái cho cá nhân,
còn siêu tượng tạo ra những huyền tượng, những tôn giáo, những triết lí có ảnh
hưởng đến một dân tộc, đến thời đại và làm cho chúng hiện ra dưới một sắc thái
riêng” [16,110]. Như vậy, Jung không những không phủ nhận vai trò của trải
nghiệm cá nhân đối với cấu trúc nhân cách con người mà còn khẳng định vai trò
của nó trong quá trình “kích hoạt tiềm năng cổ mẫu” sẵn có trong Ngã. Ông cho
rằng, tâm thần con người không đơn thuần chỉ là sản phẩm của trải nghiệm (cá
nhân), mà nó được ngập chìm trong đại dương vô thức tập thể của nhân loại, kể
cả những gì nằm ngoài sự trải nghiệm của cá nhân.
Hình 2: Mô hình tâm thần của Jung dưới dạng sơ đồ [27,83]
Sơ đồ của Jung biểu hiện mô hình tâm thần là một hình tròn gồm ba lớp: vô
thức tập thể, vô thức cá nhân, ý thức. Ngã (self) là nhân tố trung tâm xuyên thấu
toàn bộ hệ thống bằng sự ảnh hưởng của nó. Tiếp đến là vòng tròn vô thức tập
thể (collective unconscious) được tạo thành từ các cổ mẫu. Vòng thứ hai là vô
thức cá nhân (personal unconscious), được tạo thành bởi các phức hợp
(complex). Mỗi phức hợp đều được liên kết với các cổ mẫu, nó là sự nhân cách
hóa cổ mẫu và đóng vai trò như phương tiện để cổ mẫu biểu hiện trong tâm thần
cá nhân. Vòng ngoài cùng là ý thức (conscious).
Thuật ngữ “cổ mẫu” lúc mới xuất hiện có liên quan tới “Linh tượng”
(Imago Dei/ God-image) trong con người. Dấu vết của những linh tượng đó
được Jung chỉ ra thông qua trích dẫn: “Đấng Sáng thế không tạo ra thế giới từ
7
chính Người mà phỏng theo những cổ mẫu (hình mẫu sẵn có) bên ngoài Người”
(The creator of the world did not fashion these things directly from himself but
copied them from archetypes outside himself). Trong Corpus Hermeticum, Thiên
Chúa đã được gọi là ánh sáng cổ mẫu (archetypal light), cổ mẫu phi vật chất
(immaterial archetypes), đá cổ mẫu (archetypal stone) [78,4]. Như vậy, trong
một chừng mực nào đó, cổ mẫu của Jung giống với Tư tưởng (ideas) của
Plato. Về thực chất, thuật ngữ của Plato chỉ là Tư tưởng cổ mẫu (archetypal
ideas), là những dạng tinh thần thuần túy tồn tại trong tâm thức của thần linh
trước khi có cuộc sống của con người, mang tính chất siêu nhiên bởi chúng
nằm ngoài thế giới hiện tượng thông thường và biểu hiện ở mỗi người khác
nhau, mang đặc thù cá nhân.
Thứ hai, cổ mẫu có tính chất tự thân, “là một dạng liên kí hiệu bẩm sinh”
[5]. Cổ mẫu đi ra từ vô thức tập thể thông qua những trải nghiệm của cả tập thể,
cộng đồng, dân tộc được lưu giữ

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Luận án Cổ mẫu trong truyện ngắn isaac bashevis singer

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *