[block id=”bo-sung-1″]

Với triết lý giáo dục “lấy việc hình thành năng lực người học làm trung tâm, làm mục tiêu đào tạo thay cho truyền thụ kiến thức”, ngày 4/11/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Như vậy, đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục chính là chuyển giáo dục sang hướng tiếp cận năng lực. Nội dung chủ yếu là “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.
Mục tiêu đào tạo giáo viên trường sư phạm, trước hết là đào tạo những giáo viên và những nhà giáo dục nắm vững tri thức chuyên môn, có khả năng hoạt động giáo dục, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, tâm huyết với nghề, có đạo đức trong sáng, có lập trường tư tưởng vững vàng, có nghiệp vụ sư phạm, giảng dạy và học tập suốt đời, có nhân cách và những phẩm chất của người thầy, nhằm cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao cho xã hội, bồi dưỡng giáo viên của thời kỳ đổi mới, nội dung, chương trình, phương pháp nhằm làm cho người học hứng thú phát huy được năng lực dạy học của mình trong lĩnh vực giáo dục, dạy học, đáp ứng nhu cầu học tập và giảng dạy ở các trường sư phạm.
Trong những năm qua các trường cao đẳng sư phạm trong cả nước có nhiều đổi mới về nội dung, chương trình, PPDH, hình thức dạy học. nhằm phát triển NLDH cho SVCĐSP, góp phần tích cực vào quá trình đổi mới nền giáo dục nước nhà. Tuy nhiên, chất lượng đầu ra của SVCĐSP vẫn còn những hạn chế. Điều này đòi hỏi các trường sư phạm phải đẩy mạnh cải tiến hơn nữa về phương pháp, nội dung đào tạo theo hướng tăng cường rèn luyện NVSP, phát triển cho SV những năng lực cốt lõi, khi ra trường có thể vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trong quá trình dạy học ở phổ thông.
Giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến đối tượng là người học, GV là người trực tiếp hướng dẫn, gợi mở, điều khiển, điều chỉnh quá trình nhận thức của người học và cũng là người có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người học. Chính vì vậy việc phát triển NLDH cho SVCĐ sư phạm là vô cùng cần thiết. Giúp SV có một hệ thống những năng lực, tự tin hơn, vững vàng hơn trong việc giảng dạy ở nhà trường phổ thông sau này. Từ những năng lực được phát triển trong giai đoạn này là cơ sở vững chắc cho việc phát triển năng lực người giáo viên trong tương lai. Vậy, vấn đề đặt ra là, làm thế nào để phát triển cho mọi SV có NLDH tốt nhất, linh hoạt nhất, hiệu quả nhất ngay từ khi bắt đầu sự nghiệp giáo dục?
Kế thừa và phát huy những thành quả nghiên cứu của các nhà sư phạm lỗi lạc về năng lực, NL sư phạm, NLDH của người giáo viên và xuất phát từ nhu cầu thực tiễn là cần phải đào tạo một đội ngũ những nhà sư phạm có kinh nghiệm, vững vàng trong giảng dạy, hay nói cách khác, là đào tạo được một đội ngũ giáo viên với những NLDH cần thiết và chắc chắn để bước lên bục giảng ở những lớp học thực thụ. Năm 1960, tại trường đại học Stanford: Dwight Allen, Ryan, cùng Acheson, Bush, Clark, Cooper, Fortune và các đồng nghiệp xướng ra một hình thức nhằm đào tạo trong dịp hè cho một số giáo viên và chuẩn bị cho họ đảm nhiệm một cách hiệu quả hơn trong lớp học thực sự. Đó là hình thức DHVM (micro – teaching). Các nhà đào tạo muốn cải thiện một vấn đề đang đặt ra: Việc chuẩn bị cho giáo viên ra trường thường mang nặng tính lí thuyết, lí thuyết bao trùm và thường chiếm nhiều thời gian trong quá trình đào tạo, khiến giáo viên vào nghề không kiểm soát được các khó khăn gặp phải khi điều khiển một lớp học thực thụ. Do đó, hình thức DHVM bao gồm việc làm cho sinh viên tiếp thu được các cách dạy học, rèn luyện và phát triển NLDH giúp cho việc điều khiển được lớp học một cách dễ dàng.
Dạy học vi mô là hình thức dạy học tổ chức lớp học theo qui mô nhỏ, nhằm phát huy tính tích cực, coi trọng rèn nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường chuyên nghiệp. Trong trường CĐSP, hướng dẫn SV soạn giảng theo hình thức dạy học vi mô mang lại hiệu quả thiết thực nhiều mặt, giúp GV vừa nắm bắt được thực chất tình trạng dạy và học, tạo điều kiện hiểu sâu sắc từng đối tượng SV, có những điều chỉnh kịp thời, vừa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo, nâng cao NLDH và PPDH cho sinh viên.
Sau nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở trường cao đẳng sư phạm, thực tiễn cho thấy việc nghiên cứu, hình thành và phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm qua dạy học vi mô là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, vừa cơ bản, vừa cấp thiết. Do đó, vấn đề này được chọn để làm đề tài luận án cấp tiến sỹ của mình.

luan_an_phat_trien_nang_luc_day_hoc_cho_sinh_vien_cao_dang
docx256 trang | Chia sẻ: tranhieu.10 | Ngày: 24/07/2018 | Lượt xem: 376 | Lượt tải: 6download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm qua dạy học vi mô, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

BỘ GIÁO GỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
—–˜&™—–
UÔNG THỊ LÊ NA
Phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm qua dạy học vi mô
G
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử giáo dục
Mã số: 62.14.01.02
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Tình
PGS. TS Hoàng Thanh Thúy
Hà Nội – 2017
LỜI CAM ĐOAN
Luận án giáo dục học “Phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm qua dạy học vi mô”. Các số liệu khảo sát và thực nghiệm là kết quả nghiên cứu trung thực và chưa công bố ở các tài liệu khác.
Tác giả luận án xin cam đoan về sự trung thực của công trình!
Tác giả luận án
Uông Thị Lê Na
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này. Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, cán bộ, giáo viên, sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Bình Phước, trường CĐSP Thái Bình, Khoa sư phạm – Hệ CĐSP trường đại học Phạm Văn Đồng đã hợp tác, giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình điều tra thực trạng và thực nghiệm tại trường.
Xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp trong khóa NCS K33 đã cùng tôi vượt mọi khó khăn thử thách và giúp đỡ nhau trong học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới giảng viên
PGS.TS Nguyễn Thị Tình và PGS.TS Hoàng Thanh Thúy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, động viên, truyền lửa nhiệt huyết cho tôi vượt qua khó khăn trong quá trình nghiên cứu.
Để hoàn thành luận án này còn có sự ủng hộ, động viên, cổ vũ, là chỗ dựa vững chắc về vật chất và tinh thần vô cùng to lớn của gia đình. Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và những người thân yêu của tôi.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện luận án một cách tận tâm nhất. Song trong quá trình nghiên cứu khoa học sẽ không tránh khỏi những thiếu sót mà bản thân chưa nhận ra. Rất mong được sự góp ý thiện chí của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để luận án của tôi hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Stt
Chữ viết tắt
Viết đầy đủ
1
BHVM
Bài học vi mô
2
CĐSP
Cao đẳng Sư phạm
3
DH
Dạy học
4
DHVM
Dạy học vi mô
5
GV, SV
Giảng viên, Sinh viên
6
GA
Giáo án
7
KTĐG
Kiểm tra đánh giá
8
KTDH
Kỹ thuật dạy học
9
NVSP
Nghiệp vụ sư phạm
10
NLDH
Năng lực dạy học
11
NL
Năng lực
12
PPDH
Phương pháp dạy học
13
PTNL
Phát triển năng lực
14
RLNVSP
Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
15
SVCĐSP
Sinh viên cao đẳng sư phạm
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với triết lý giáo dục “lấy việc hình thành năng lực người học làm trung tâm, làm mục tiêu đào tạo thay cho truyền thụ kiến thức”, ngày 4/11/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Như vậy, đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục chính là chuyển giáo dục sang hướng tiếp cận năng lực. Nội dung chủ yếu là “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành, lý luận  gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.
Mục tiêu đào tạo giáo viên trường sư phạm, trước hết là đào tạo những giáo viên và những nhà giáo dục nắm vững tri thức chuyên môn, có khả năng hoạt động giáo dục, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, tâm huyết với nghề, có đạo đức trong sáng, có lập trường tư tưởng vững vàng, có nghiệp vụ sư phạm, giảng dạy và học tập suốt đời, có nhân cách và những phẩm chất của người thầy, nhằm cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao cho xã hội, bồi dưỡng giáo viên của thời kỳ đổi mới, nội dung, chương trình, phương pháp nhằm làm cho người học hứng thú phát huy được năng lực dạy học của mình trong lĩnh vực giáo dục, dạy học, đáp ứng nhu cầu học tập và giảng dạy ở các trường sư phạm.
Trong những năm qua các trường cao đẳng sư phạm trong cả nước có nhiều đổi mới về nội dung, chương trình, PPDH, hình thức dạy học… nhằm phát triển NLDH cho SVCĐSP, góp phần tích cực vào quá trình đổi mới nền giáo dục nước nhà. Tuy nhiên, chất lượng đầu ra của SVCĐSP vẫn còn những hạn chế. Điều này đòi hỏi các trường sư phạm phải đẩy mạnh cải tiến hơn nữa về phương pháp, nội dung đào tạo theo hướng tăng cường rèn luyện NVSP, phát triển cho SV những năng lực cốt lõi, khi ra trường có thể vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trong quá trình dạy học ở phổ thông.
Giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến đối tượng là người học, GV là người trực tiếp hướng dẫn, gợi mở, điều khiển, điều chỉnhquá trình nhận thức của người học và cũng là người có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người học. Chính vì vậy việc phát triển NLDH cho SVCĐ sư phạm là vô cùng cần thiết. Giúp SV có một hệ thống những năng lực, tự tin hơn, vững vàng hơn trong việc giảng dạy ở nhà trường phổ thông sau này. Từ những năng lực được phát triển trong giai đoạn này là cơ sở vững chắc cho việc phát triển năng lực người giáo viên trong tương lai. Vậy, vấn đề đặt ra là, làm thế nào để phát triển cho mọi SV có NLDH tốt nhất, linh hoạt nhất, hiệu quả nhất ngay từ khi bắt đầu sự nghiệp giáo dục?
Kế thừa và phát huy những thành quả nghiên cứu của các nhà sư phạm lỗi lạc về năng lực, NL sư phạm, NLDH của người giáo viên và xuất phát từ nhu cầu thực tiễn là cần phải đào tạo một đội ngũ những nhà sư phạm có kinh nghiệm, vững vàng trong giảng dạy, hay nói cách khác, là đào tạo được một đội ngũ giáo viên với những NLDH cần thiết và chắc chắn để bước lên bục giảng ở những lớp học thực thụ. Năm 1960, tại trường đại học Stanford: Dwight Allen, Ryan, cùng Acheson, Bush, Clark, Cooper, Fortune và các đồng nghiệp xướng ra một hình thức nhằm đào tạo trong dịp hè cho một số giáo viên và chuẩn bị cho họ đảm nhiệm một cách hiệu quả hơn trong lớp học thực sự. Đó là hình thức DHVM (micro – teaching). Các nhà đào tạo muốn cải thiện một vấn đề đang đặt ra: Việc chuẩn bị cho giáo viên ra trường thường mang nặng tính lí thuyết, lí thuyết bao trùm và thường chiếm nhiều thời gian trong quá trình đào tạo, khiến giáo viên vào nghề không kiểm soát được các khó khăn gặp phải khi điều khiển một lớp học thực thụ. Do đó, hình thức DHVM bao gồm việc làm cho sinh viên tiếp thu được các cách dạy học, rèn luyện và phát triển NLDH giúp cho việc điều khiển được lớp học một cách dễ dàng.
Dạy học vi mô là hình thức dạy học tổ chức lớp học theo qui mô nhỏ, nhằm phát huy tính tích cực, coi trọng rèn nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường chuyên nghiệp. Trong trường CĐSP, hướng dẫn SV soạn giảng theo hình thức dạy học vi mô mang lại hiệu quả thiết thực nhiều mặt, giúp GV vừa nắm bắt được thực chất tình trạng dạy và học, tạo điều kiện hiểu sâu sắc từng đối tượng SV, có những điều chỉnh kịp thời, vừa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo, nâng cao NLDH và PPDH cho sinh viên.
Sau nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở trường cao đẳng sư phạm, thực tiễn cho thấy việc nghiên cứu, hình thành và phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm qua dạy học vi mô là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, vừa cơ bản, vừa cấp thiết. Do đó, vấn đề này được chọn để làm đề tài luận án cấp tiến sỹ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng về phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm qua dạy học vi mô, đề tài thiết kế quy trình dạy học vi mô nhằm phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo giáo viên ở trường Cao đẳng sư phạm nói riêng và đội ngũ giáo viên ở phổ thông nước ta nói chung.
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Thiết kế qui trình dạy học vi mô phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm
4. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế quy trình DHVM phát huy tính tích cực chủ động học tập, tạo nhiều cơ hội thực hành và trải nghiệm thực tế, khuyến khích SV học hỏi, hợp tác với nhau thì sẽ phát triển được NLDH của SVCĐSP.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xây dựng cơ sở lý luận về phát triển NLDH cho SVCĐSP qua DHVM
5.2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng phát triển NLDH của SVCĐSP qua DHVM
5.3. Thiết kế quy trình DHVM và tiến hành thực nghiệm quy trình DHVM phát triển NLDH cho SVCĐSP qua môn học rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về nội dung nghiên cứu
– Thiết kế quy trình dạy học vi mô phát triển năng lực dạy học cho sinh viên CĐSP ở môn học Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên.
6.2. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên trường CĐSP đại diện cho 3 miền: Bắc – Trung – Nam đó là:
– Trường Cao đẳng Sư phạm Bình Phước
– Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
– Khoa sư phạm – Hệ CĐSP trường Đại học Phạm Văn Đồng
– Thực nghiệm tại trường CĐSP Bình Phước
6.3. Giới hạn về khách thể được nghiên cứu
– Nghiên cứu 600 sinh viên ở các khoa Tự nhiên, Xã hội, Tiểu học – Mầm non.
– Các cán bộ quản lý trong đó gồm: Phòng đào tạo, phòng khảo thí, khoa Tự nhiên, khoa xã hội, khoa Tiểu học mầm non.
– 36 GV của 3 trường, CĐSP Thái Bình, CĐSP Bình Phước, khoa sư phạm – Hệ CĐSP trường Đại học Phạm Văn Đồng.
6.4. Giới hạn về thời gian
Nghiên cứu được tiến hành từ 2013 – 2016 trong đó
– Khảo sát thực trạng năm học 2013 – 2015
– Thực nghiệm được tiến hành từ tháng 09/2015 – 05/2016
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng tôi phối hợp các tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu chủ yếu dưới đây.
7.1. Tiếp cận hệ thống – cấu trúc
Quá trình dạy học ở trường Sư phạm là một hệ thống toàn vẹn bao gồm các thành tố có quan hệ mật thiết với nhau. Các thành tố của QTDH không tồn tại độc lập mà tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau. Sự vận động, phát triển của thành tố này là cơ sở cho sự vận động và phát triển của các thành tố khác và ngược lại. Tiếp cận hệ thống cấu trúc cho phép nhận diện và tiếp cận các vấn đề giáo dục một cách toàn diện, dự tính đầy đủ vị trí, vai trò, chức năng, các mối quan hệ và các tác động qua lại giữa các thành phần. Phát triển năng lực dạy học cho SV cũng mang tính chất ổn định tương đối, chúng luôn vận động và phát triển theo yêu cầu phát triển của xã hội, được cụ thể hóa trong từng giai đoạn đào tạo.
7.2. Tiếp cận lịch sử
Quán triệt quan điểm này luận án đã nghiên cứu trong quá trình hình thành và phát triển NLDH của SV, ở những giai đoạn khác nhau NLDH của người GV cũng có những thay đổi để phù hợp với sự phát triển xã hội. Dựa vào những kinh nghiệm trên thế giới về phát triển NLDH trong đào tạo GV, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau hệ thống các NLDH cũng có sự thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của xã hội. Phát triển NLDH cho SV là một hướng đi có nhiều triển vọng. Trên cơ sở kế thừa những thành tựu đã đạt được trên thế giới về phát triển NLDH vận dụng vào điều kiện cụ thể trong đào tạo GV ở nước ta.
7.3. Tiếp cận thực tiễn
Quan điểm thực tiễn chỉ đạo quá trình nghiên cứu luận án phải xuất phát từ yêu cầu của giáo dục đào tạo, luôn bám sát theo nội dung, chương trình đào tạo hiện hành cũng như các chủ trương đổi mới của ngành giáo dục nhằm đảm bảo tính kế thừa và phát triển. Trong quá trình triển khai đề tài nghiên cứu tác giả luôn đối chiếu với những vấn đề lý luận và thực tiễn đào tạo GV ở Việt Nam nói chung GV cho các trường THCS nói riêng. Việc xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của luận án không chỉ giúp làm vững chắc cơ sở khoa học của đề tài mà còn giúp định hướng giải quyết những vấn đề cụ thể – hình thành và phát triển năng lực dạy học cho SVCĐSP. Triển khai thực nghiệm sư phạm và kiểm nghiệm tính khả thi của quy trình đã thiết kế.
7.4. Tiếp cận phát triển
Tiếp cận nghiên cứu theo quan điểm phát triển cho phép nhìn nhận nghiên cứu vấn đề xã hội nói chung và trong giáo dục nói riêng, quá trình diễn tiến không chỉ trong quá khứ, hiện tại mà còn định hướng tương lai. Trong nghiên cứu khi khám phá nhìn nhận sự vật, sự việc ta phải đặt chúng trong trạng thái động, trạng thái phát triển để tìm ra bản chất của sự vật. Tiếp cận phát triển trong NCKHGD là nghiên cứu, khám phá, tìm ra bản chất, quy luật của sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng trong giáo dục thông qua các hoạt động. Trong quá trình nghiên cứu về NLDH của SVCĐSP phải tìm ra những con đường, quy trình để phát triển NLDH cho SVCĐSP.
7.5. Tiếp cận năng lực
Để thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo nhân lực trong các cơ sở đào tạo với yêu cầu của thị trường lao động thì cần thiết phải đổi mới, từ việc xây dựng nội dung chương trình đào tạo, xây dựng nội dung học phần đến đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực người học. Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách về chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển kinh tế – xã hội, đòi hỏi mỗi trường CĐSP cần nhanh chóng vượt ra khỏi mô hình giáo dục truyền thống, chuyển sang mô hình giáo dục theo định hướng tiếp cận năng lực người học, chuyển từ việc trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học. Nghĩa là phải thay đổi quan  điểm, mục tiêu dạy học: từ chỗ chỉ quan tâm tới việc người học học được gì đến chỗ quan tâm tới việc người học làm được cái gì qua việc học.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa những tài liệu có liên quan nhằm hiểu sâu sắc hơn bản chất của vấn đề nghiên cứu, sắp xếp thành một hệ thống để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
– Mục đích: Sử dụng PP này nhằm điều tra thực trạng về NLDH của SVCĐSP và quy trình DHVM để phát triển NLDH của SVCĐSP.
– Nội dung: Tiến hành xây dựng bản Anket, xin ý kiến bằng cách dùng hệ thống các câu hỏi nhiều lựa chọn để tìm hiểu thực trạng về hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
– Cách tiến hành điều tra:
+ Xây dựng phiếu điều tra
+ Phát phiếu điều tra cho CBQL, giáo viên và sinh viên năm II, năm III (có hướng dẫn trả lời)
+ Thu phiếu, xử lý và phân tích số liệu điều tra.
7.2.2.2. Quan sát
– Mục đích: Tiến hành quan sát các hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của sinh viên trong quá trình dạy học môn RLNVSPTX. Từ đó tìm hiểu thực trạng việc hình thành và phát triển NLDH của SV. Kết hợp với GV tìm ra những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc phát triển NLDH cho SV.
– Cách tiến hành: Tiến hành dự giờ để quan sát cách thức tiến hành hoạt động giảng dạy của giáo viên, hoạt động học tập của SV và quá trình thực tập sư phạm của SV.
7.2.2.3. Phương pháp phỏng vấn
– Mục đích: Phương pháp này hỗ trợ phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, đồng thời cung cấp một số thông tin cụ thể nhằm tăng độ tin cậy và sức thuyết phục của phương pháp điều tra.
– Nội dung: Cụ thể trao đổi với giáo viên về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc hình thành và phát triển NLDH của SV. Về phía sinh viên: Tiến hành phỏng vấn SV  xoay quanh vấn đề phát triển NLDH của bản thân. Từ đó thu thập ý kiến của giáo viên và sinh viên nhằm đánh giá đúng NLDH của người học nâng cao chất lượng đầu ra của SV.
7.2.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Thông qua phân tích đánh giá các sản phẩm hoạt động của SV như hồ sơ giáo án, kiến tập, thực tập, biên bản dự giờ, băng đĩa hình ghi đượckết quả học tập của SV ở những bài giảng mà SV thực hiệntừ đó tìm ra được những điểm mạnh, điểm yếu về NLDH của SV để có biện pháp phát huy ưu điểm và khắc phục nhược điểm.
7.2.2.5. Phương pháp chuyên gia
Chuyên gia là người thấy rõ nhất những mâu thuẫn và những vấn đề tồn tại trong lĩnh vực hoạt động của mình, đồng thời các chuyên gia luôn hướng về tương lai để giải quyết những vấn đề đó dựa trên những hiểu biết sâu sắc, kinh nghiệm phong phú và tầm nhìn chiến lược.
Tiến hành xin ý kiến chuyên gia về vấn đề phát triển NLDH của SV qua quy trình DHVM. Ý kiến chuyên gia là một trong những cơ sở tin cậy để chúng tôi tiến hành nghiên cứu.
7.2.2.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Về mục đích, nội dung, tiến trình và kết quả thực nghiệm đã trình bày đầy đủ ở chương 4 của luận án.
Trong luận án, phương pháp thực nghiệm được sử dụng để kiểm chứng các lý thuyết được nghiên cứu. Thực nghiệm quy trình DHVM phát triển NLDH của SVCĐSP.
7.2.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Bằng việc sử dụng một số thuật toán của toán học thống kê. Các phương pháp này được sử dụng với mục đích xử lý và trình bày các số liệu và để kiểm chứng độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu khẳng định tính khả thi của quy trình DHVM đã đề xuất.
8. Luận điểm bảo vệ
8.1. Phát triển NLDH cho sinh viên sư phạm là một trong những mục tiêu đào tạo chủ yếu của nhà trường sư phạm nói chung và CĐSP nói riêng nhằm đáp ứng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trong giai đoạn hiện nay.
8.2. Có nhiều con đường phát triển được NLDH cho SVCĐSP, một trong số đó là thông qua dạy học vi mô
8.3. Thiết kế quy trình DHVM phát huy tính tích cực chủ động học tập, tạo nhiều cơ hội thực hành và trải nghiệm thực tế, khuyến khích SV học hỏi, hợp tác với nhau thì sẽ phát triển được NLDH của SVCĐSP.
9. Đóng góp mới của luận án
9.1. Về mặt lý luận
Phân tích, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển NLDH của SVSP nói chung và SVCĐSP nói riêng, góp phần làm sáng rõ, phong phú và hoàn thiện hơn về LLDH nói chung lý luận phát triển NLDH nói riêng. Trong đó trọng tâm là hệ thống khái niệm về NLDH, phát triển NLDH, những NLDH cần được phát triển, nội dung nguyên tắc và con đường phát triển NLDH cho SVCĐSP qua DHVM.
9.2. Về thực tiễn
– Luận án đánh giá thực trạng phát triển NLDH của SVCĐSP và và các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng đó, giúp các trường SP nói chung có thêm căn cứ thực tiễn để đề xuất các biện pháp phát triển NLDH và thực hiện quy trình DHVM phát triển NLDH cho SV theo yêu cầu của xã hội, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường CĐSP.
10. Cấu trúc luận án
Cấu trúc luận án ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm bốn chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm qua dạy học vi mô
Chương 2: Thực trạng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng sư phạm qua dạy học vi mô
Chương 3: Thiết kế quy trình dạy học vi mô phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm
Chương 4: Thực nghiệm quy trình dạy học vi mô phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC
CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM QUA DẠY HỌC VI MÔ
1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Năng lực dạy học là một vấn đề then chốt trong đào tạo GV, bên cạnh những năng lực khác như năng lực giáo dục, năng lực giải quyết vấn đề… quyết định sự thành bại trong quá trình dạy học. Hiệu quả của quá trình giảng dạy, giáo dục của người GV phụ thuộc cả vào trình độ chuyên môn lẫn trình độ nghiệp vụ của họ. Do đó vấn đề phát triển NLDH cho SV sư phạm đã được nhiều tác giả trong nước cũng như trên thế giới quan tâm và nghiên cứu. Dưới đây là một số công trình cơ bản về lĩnh vực này ở một số nước trên thế giới cũng như Việt Nam.
Các hướng nghiên cứu cơ bản
1.1.1.1. Những nghiên cứu về năng lực
Khái niệm năng lực (tiếng Anh Competence) đầu tiên được nhà ngôn ngữ học người Mỹ N.Chomsky sử dụng để chỉ năng lực ngôn ngữ của một thành viên trong một cộng đồng ngôn ngữ nào đó. Tức là kết quả của một hoạt động ngôn ngữ. Sau đó là các nhà lý luận dạy học ngoại ngữ sử dụng rộng rãi, thuật ngữ này để chỉ một năng lực nào đó trong quá trình lĩnh hội ngôn ngữ đích. Trong lý luận dạy học nói chung, khái niệm “năn

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Luận án Phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm qua dạy học vi mô

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *