[block id=”bo-sung-1″]

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay không có bất cứ quốc gia nào tồn tại phát triển được mà chỉ dựa trên một nền kinh tế đóng, không giao thương với nước ngoài. Hoạt động giao thương kinh tế phải là của các doanh nghiệp. Một khi các doanh nghiệp còn hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa thì không thể cạnh tranh nổi trong môi trường toàn cầu hóa, nó sẽ làm mất đi vai trò đặc trưng của mình là thước đo của nền kinh tế.
Quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà Nước từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao cấp sang cơ chế thị trường tại Việt Nam đã diễn ra được 20 năm nếu tính mốc đầu tiên là Nghị định 217 ngày 14/11/1987 quy định bãi bỏ cơ chế hỗ trợ ngân sách trực tiếp cho các doanh nghiệp. Đây là bước đi khởi điểm cho quá trình chuyển đổi, thay đổi cách nhìn nhận của Nhà Nước đối với các doanh nghiệp của mình. Tuy nhiên quá trình này diễn ra rất chậm chạp và đến đầu những năm 90 của thế kỷ 20 hoạt đồng này đã không đạt được yêu cầu như mong muốn. Tình trạng thất thoát làm ăn kém hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà Nước vẫn tiếp tục diễn ra, điều này buộc Chính phủ Việt Nam phải quyết tâm hơn nữa trong việc cải cách này. Hàng loạt văn bản luật đã ra đời để chỉ đạo và hướng dẫn quá trình chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà Nước thành các công ty TNHH, công ty cổ phần .
Song song với cách chỉ đạo đó của chính phủ là việc Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước chính thức đi vào hoạt động từ 01/8/2006 và việc Việt Nam trở thành thành viên của WTO thì việc chuyển đổi các doanh nghiệp Nhà Nước, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Nhiệm vụ đặt ra cho Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước là phải thay mặt Nhà Nước tiếp nhận, quản lý và phát triển nguồn vốn tại các doanh nghiệp, đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa các tổng công ty và các doanh nghiệp Nhà Nước lớn, tiến tới niêm yết cổ phiếu của các doanh nghiệp này trên thị trường chứng khoán trong và ngoài nước.
Bài viết này tập trung vào quá trình chuyển đổi các doanh nghiệp Nhà Nước, quá trình tiếp nhận phần vốn Nhà Nước tại các doanh nghiệp của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước và kế hoạch niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
2. Tình hình nghiên cứu
Việc chuyển đổi mô hình kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, chuyển đổi mô hinh doanh nghiệp từ doanh nghiệp 100% vốn Nhà Nước thành các công ty TNHH và công ty cổ phần đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu, tổng hợp trong nhiều giai đoạn của quá trình cải cách doanh nghiệp. Thực tế những đề tài đó cũng là một trong những vấn đề về lý luận và thực tiễn để góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Vấn đề tiếp nhận vốn Nhà Nước tại các doanh nghiệp nay chính phủ không giao cho các địa phương, các bộ, ngành . như trước kia nữa mà giao cho Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước. Đây là vấn đề không mới trên bình diện quốc tế nhưng đối với Việt Nam thì đó là vấn đề còn mất nhiều thời gian để hoàn thiện. Chính phủ giao quyền tiếp nhận và quản lý vốn Nhà Nước tại doanh nghiệp cho Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước sẽ đặt lên vai Tông công ty nhiệm vụ thúc đẩy hơn nữa quá trình cổ phần hóa và niêm yết cổ phiếu của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán, mở ra một trang mới trong quá trình chuyển đổi doanh nghiệp Nhà Nước.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính của luận văn là phân tích và đánh giá quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế và mô hình doanh nghiệp từ khi có chương trình cải cách của chính phủ, tập trung vào giai đoạn 15 năm trở lại đây đồng thời rút ra kết luận vì sao chính phủ phải thúc đẩy quá trònh chuyển đổi nhanh hơn nữa thông qua việc thành lập Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước. Qua đó đề xuất một số giải pháp tiếp nhận và quản lý nguồn vốn đó sao cho có hiệu quả đồng thời đẩy nhanh tính minh bạch hóa, đa dạng hình thức sở hữu qua việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Làm rõ nguyên nhân tại sao Nhà Nước phải tiến hành chuyển đổi mô hình doanh nghiệp từ 100% vốn Nhà Nước sang các công ty TNHH và công ty cổ phần.
– Phân tích và đánh giá quá trình thực hiện việc chuyển đổi đó và kết quả đã đạt được trong giai đoạn trên.
– Từ sự đánh giá đó rút ra kết luận về tính tích cực trong việc chuyển đổi mô hình doanh nghiệp và tại sao chính phủ phải đẩy mạnh hơn nữa quá trình cải cách thông qua cổ phần hóa hàng loạt Tổng công ty và doanh nghiệp giai đoạn tới.
– Trong quá trình nghiên cứu sự chuyển đổi các doanh nghiệp trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà Nước và niêm yết trên thị trường chứng khoán.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề chuyển đổi mô hình doanh nghiệp đồng thời rút ra kết luận qua những bài học từ quá trình tư nhân hoá tại các quốc gia trong khu vực và vấn đề quản lý vốn tại các doanh nghiệp có nguồn vốn của Nhà Nước trong tương lai.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
– Khái niệm mô hình kế hoạch hoá, bao cấp được hiểu là doanh nghiệp Nhà Nước hoạt động theo chỉ tiêu, kế hoạch do Nhà Nước giao (giao kế hoạch sản xuất, còn sản phẩm do Nhà Nước bao tiêu ) Đồng thời thực hiện hình thức cấp phát vốn chứ không phải hình thức đầu tư. Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên phương diện có hoàn thành được kế hoạch do Nhà Nước giao hay không chứ không lấy thước đo lợi nhuận để đánh giá.
– Khái niệm cổ phần hoá được hiểu là đa dạng hoá hình thức sở hữu trong một doanh nghiệp. Một doanh nghiệp được coi là cổ phần hoá khi doanh nghiệp đó không còn là 100% vốn Nhà Nước nữa.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận là các công trình nghiên cứu về quá trình phát triển kinh tế tại Việt Nam, căn cứ dựa trên các báo cáo kinh tế và những luận điểm về quá trình chuyển đổi kinh tế tại Việt Nam của các tổ chức kinh tế trong nước như Thời báo Kinh tế Việt Nam hay các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, Ngân hàng Thế giới WB hay chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc UNDP
Cơ sơ thực tiễn dựa trên kết quả khảo sát phát triển kinh tế và chuyển đổi mô hình doanh nghiệp trên cơ sở báo cáo tình hình thực tế tại các địa phương trên toàn quốc. Đánh giá hiệu quả của kế hoạch dựa trên kết quả đã đạt được đồng thời so sánh với hoạt động trước khi chuyển đổi từ đó thấy được sự đúng đắn của chương trình chuyển đổi của chính phủ.
7. Kết luận luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
– Chương 1: Giới thiệu chung về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nươc
– Chương 2: Vai trò của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
– Chương 3: Giải pháp thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp tại Việt Nam và kế hoạch niêm yết cổ phiếu của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán

Tải tài liệu miễn phí - My WordPress Blog35

Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Giải pháp thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp tại Việt Nam và kế hoạch niêm yết cổ phiếu của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay không có bất cứ quốc gia nào tồn tại phát triển được mà chỉ dựa trên một nền kinh tế đóng, không giao thương với nước ngoài. Hoạt động giao thương kinh tế phải là của các doanh nghiệp. Một khi các doanh nghiệp còn hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa thì không thể cạnh tranh nổi trong môi trường toàn cầu hóa, nó sẽ làm mất đi vai trò đặc trưng của mình là thước đo của nền kinh tế.
Quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà Nước từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao cấp sang cơ chế thị trường tại Việt Nam đã diễn ra được 20 năm nếu tính mốc đầu tiên là Nghị định 217 ngày 14/11/1987 quy định bãi bỏ cơ chế hỗ trợ ngân sách trực tiếp cho các doanh nghiệp. Đây là bước đi khởi điểm cho quá trình chuyển đổi, thay đổi cách nhìn nhận của Nhà Nước đối với các doanh nghiệp của mình. Tuy nhiên quá trình này diễn ra rất chậm chạp và đến đầu những năm 90 của thế kỷ 20 hoạt đồng này đã không đạt được yêu cầu như mong muốn. Tình trạng thất thoát làm ăn kém hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà Nước vẫn tiếp tục diễn ra, điều này buộc Chính phủ Việt Nam phải quyết tâm hơn nữa trong việc cải cách này. Hàng loạt văn bản luật đã ra đời để chỉ đạo và hướng dẫn quá trình chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà Nước thành các công ty TNHH, công ty cổ phần …
Song song với cách chỉ đạo đó của chính phủ là việc Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước chính thức đi vào hoạt động từ 01/8/2006 và việc Việt Nam trở thành thành viên của WTO thì việc chuyển đổi các doanh nghiệp Nhà Nước, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Nhiệm vụ đặt ra cho Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước là phải thay mặt Nhà Nước tiếp nhận, quản lý và phát triển nguồn vốn tại các doanh nghiệp, đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa các tổng công ty và các doanh nghiệp Nhà Nước lớn, tiến tới niêm yết cổ phiếu của các doanh nghiệp này trên thị trường chứng khoán trong và ngoài nước.
Bài viết này tập trung vào quá trình chuyển đổi các doanh nghiệp Nhà Nước, quá trình tiếp nhận phần vốn Nhà Nước tại các doanh nghiệp của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước và kế hoạch niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Tình hình nghiên cứu
Việc chuyển đổi mô hình kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, chuyển đổi mô hinh doanh nghiệp từ doanh nghiệp 100% vốn Nhà Nước thành các công ty TNHH và công ty cổ phần đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu, tổng hợp trong nhiều giai đoạn của quá trình cải cách doanh nghiệp. Thực tế những đề tài đó cũng là một trong những vấn đề về lý luận và thực tiễn để góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Vấn đề tiếp nhận vốn Nhà Nước tại các doanh nghiệp nay chính phủ không giao cho các địa phương, các bộ, ngành … như trước kia nữa mà giao cho Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước. Đây là vấn đề không mới trên bình diện quốc tế nhưng đối với Việt Nam thì đó là vấn đề còn mất nhiều thời gian để hoàn thiện. Chính phủ giao quyền tiếp nhận và quản lý vốn Nhà Nước tại doanh nghiệp cho Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước sẽ đặt lên vai Tông công ty nhiệm vụ thúc đẩy hơn nữa quá trình cổ phần hóa và niêm yết cổ phiếu của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán, mở ra một trang mới trong quá trình chuyển đổi doanh nghiệp Nhà Nước.
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính của luận văn là phân tích và đánh giá quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế và mô hình doanh nghiệp từ khi có chương trình cải cách của chính phủ, tập trung vào giai đoạn 15 năm trở lại đây đồng thời rút ra kết luận vì sao chính phủ phải thúc đẩy quá trònh chuyển đổi nhanh hơn nữa thông qua việc thành lập Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước. Qua đó đề xuất một số giải pháp tiếp nhận và quản lý nguồn vốn đó sao cho có hiệu quả đồng thời đẩy nhanh tính minh bạch hóa, đa dạng hình thức sở hữu qua việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ nguyên nhân tại sao Nhà Nước phải tiến hành chuyển đổi mô hình doanh nghiệp từ 100% vốn Nhà Nước sang các công ty TNHH và công ty cổ phần.
Phân tích và đánh giá quá trình thực hiện việc chuyển đổi đó và kết quả đã đạt được trong giai đoạn trên.
Từ sự đánh giá đó rút ra kết luận về tính tích cực trong việc chuyển đổi mô hình doanh nghiệp và tại sao chính phủ phải đẩy mạnh hơn nữa quá trình cải cách thông qua cổ phần hóa hàng loạt Tổng công ty và doanh nghiệp giai đoạn tới.
Trong quá trình nghiên cứu sự chuyển đổi các doanh nghiệp trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà Nước và niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề chuyển đổi mô hình doanh nghiệp đồng thời rút ra kết luận qua những bài học từ quá trình tư nhân hoá tại các quốc gia trong khu vực và vấn đề quản lý vốn tại các doanh nghiệp có nguồn vốn của Nhà Nước trong tương lai.
Phạm vi nghiên cứu
Khái niệm mô hình kế hoạch hoá, bao cấp được hiểu là doanh nghiệp Nhà Nước hoạt động theo chỉ tiêu, kế hoạch do Nhà Nước giao (giao kế hoạch sản xuất, còn sản phẩm do Nhà Nước bao tiêu…) Đồng thời thực hiện hình thức cấp phát vốn chứ không phải hình thức đầu tư. Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên phương diện có hoàn thành được kế hoạch do Nhà Nước giao hay không chứ không lấy thước đo lợi nhuận để đánh giá.
Khái niệm cổ phần hoá được hiểu là đa dạng hoá hình thức sở hữu trong một doanh nghiệp. Một doanh nghiệp được coi là cổ phần hoá khi doanh nghiệp đó không còn là 100% vốn Nhà Nước nữa.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận là các công trình nghiên cứu về quá trình phát triển kinh tế tại Việt Nam, căn cứ dựa trên các báo cáo kinh tế và những luận điểm về quá trình chuyển đổi kinh tế tại Việt Nam của các tổ chức kinh tế trong nước như Thời báo Kinh tế Việt Nam … hay các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, Ngân hàng Thế giới WB hay chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc UNDP …
Cơ sơ thực tiễn dựa trên kết quả khảo sát phát triển kinh tế và chuyển đổi mô hình doanh nghiệp trên cơ sở báo cáo tình hình thực tế tại các địa phương trên toàn quốc. Đánh giá hiệu quả của kế hoạch dựa trên kết quả đã đạt được đồng thời so sánh với hoạt động trước khi chuyển đổi từ đó thấy được sự đúng đắn của chương trình chuyển đổi của chính phủ.
Kết luận luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Giới thiệu chung về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nươc
Chương 2: Vai trò của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp tại Việt Nam và kế hoạch niêm yết cổ phiếu của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán
Chương 1. Giới thiệu chung về tổng công ty đầu tư
và kinh doanh vốn Nhà Nước
Thực trạng việc quản lý vốn Nhà Nước tại các doanh nghiệp Nhà Nước
Trong lịch sử phát triển nền kinh tế Việt Nam, các doanh nghiệp Nhà Nước luôn chiếm một vị thế quan trọng, đóng góp vào thành công chung của nền kinh tế trong mỗi giai đoạn nhất định, dù trong hoàn cảnh nào cũng không thể phủ nhận những thành tựu mà các doanh nghiệp Nhà Nước đã đóng góp.
Theo một cách thông thường con người khó có thể nhận biết được những thành công hay hạn chế của một mô hình kinh tế mà thường phải trải qua một thời gian nhất định chúng ta mới có thể quay lại nhìn nhận, xem xét và đánh giá những thành công hay hạn chế đã được chúng ta thực hiện.
Đến nay nền kinh tế Việt Nam đã trải qua nhều giai đoạn phát triển khác nhau, mỗi giai đoạn có một đặc điểm riêng, đều có mặt thành công và những hạn chế nhất định, có thể chia quá trình đó làm hai giai đoạn sau.
Mặt thành công và những hạn chế của mô hình kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp giai đoạn trước 1986
Mặt thành công
Tập trung được sức mạnh tổng lực, xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và góp phần quan trọng có tính chất quyết định đối với thắng lợi 30/04/1975 ở miền Nam thống nhất nước nhà.
Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung phù hợp với bối cảnh lịch sử cũng như phù hợp với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ. Tranh thủ được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta.
Là một mô hình kinh tế còn mới so với mô hình tại các nước tư sản, đã chứng minh được những ưu điểm nhất định so với các quốc gia tư bản chủ nghĩa thời bấy giờ.
Những hạn chế
Tuy nhiên mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp đã phát huy được những ưu điểm trong thời kỳ chiến tranh bao nhiêu thì lại càng bộc lộ những hạn chế bấy nhiêu sau chiến tranh.
Không thúc đẩy được sản xuất phát triển, mọi hoạt động của các cơ quan, đơn vị doanh nghiệp đều được thực hiện theo chỉ tiêu, chính sách tức nói một cách nôm na (làm theo đơn đặt hàng từ Nhà Nước) không tự chủ trong kinh doanh dẫn đến thiếu phương hướng, không kích thích được kinh tế phát triển.
Không có tính chịu trách nhiệm cao trong quản lý kinh tế, người làm kinh tế nhưng ít phải chịu trách nhiệm về những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do mình làm chủ (đứng đầu). Lý do là do cơ chế chính sách: Nhà Nước bù lỗ, trợ giá, làm theo chỉ tiêu và theo đơn đạt hàng từ Nhà Nước.
Một yếu tố mà xưa nay chúng ta ít đề cập và cũng có thể coi là né tránh đó là không gắn lợi ích giữa doanh nghiệp và cá nhân. “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” là một khẩu hiệu nhiều hơn tính thực tiễn, khi mà những lợi ích của cá nhân chưa được chú trọng một cách đúng mức thì rất khó để mỗi cá nhân toàn tâm toàn ý với doanh nghiệp của mình.
Chủ nghĩa cào bằng, thiếu cạnh tranh là nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, thiếu sáng tạo và hết mình vì công việc…
Mô hình kinh tế của chúng ta giai đoạn từ 1986 đến nay
Với tất cả những khó khăn và hạn chế của mô hình kế hoạch hoá tập trung bao cấp, Nhà Nước không thể đủ khả năng gánh vác trọng trách chuyên bù lỗ cho các doanh nghiệp được nữa, Nhà Nước cần phải có những thay đổi căn bản để các doanh nghiệp giảm sự phụ thuộc vào Nhà Nước, tăng tính hiệu quả trong quản lý kinh tế. Mục đích trước mắt của Nhà Nước là các doanh nghiệp phải tự tìm hướng đi cho riêng mình sau khi Nhà Nước giao vốn và quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp.
Chính sách của Nhà Nước đối với các doanh nghiệp Nhà Nước
Nhà Nước tiến hành tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp theo hướng tinh giảm, những doanh nghiệp nào hoạt động vì mục đích kinh tế thì phải tự nuôi sống mình, còn các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích hay ngành nghề chiến lược nhưng không hấp dẫn đầu tư sẽ có chính sách riêng.
Chuyển đổi dần mô hình các doanh nghiệp của Nhà Nước thành các công ty TNHH một thành viên, TNHH hai thành viên, công ty cổ phần… hoạt động theo Luật doanh nghiệp.
Giảm bớt sự phụ thuộc của các doanh nghiệp vào Nhà Nước, không tiếp tục bù lỗ cho các doanh nghiệp của Nhà Nước nữa mà tiến hành rà soát lại các doanh nghiệp, nếu làm ăn không hiệu quả, thua lỗ kéo dài thì cho tiến hành giải thể hoặc phá sản theo luật phá sản doanh nghiệp.
Đối với các ngành nghề hoặc lĩnh vực kinh doanh kém hấp dẫn hoặc phải đầu tư lâu dài mới hiệu quả, khả năng thu hồi vốn lâu và khả năng sinh lãi thấp thì thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư như: khuyến khích bằng cách miễn giảm thuế, tiền thuê đất, thủ tục cấp phép đầu tư nhanh gọn.
Những kết quả đạt được trong giai đoạn này
Từ chỗ các doanh nghiệp Nhà Nước chiếm vị thế độc tôn trên tất cả các ngành và lĩnh vực thì hiện nay điều này đã thay đổi.
Nhà Nước chỉ giữ lại các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hoặc hoạt động trong những ngành hoặc lĩnh vực có tính chất chiến lược như: năng lượng, viễn thông, dầu khí, và các doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu hay chính sách xã hội như: Ngân hàng chính sách, bệnh viện, trường học…
Đến nay số lượng các doanh nghiệp Nhà Nước đã giảm một cách đáng kể, theo số liệu thống kê của Ban chỉ đạo cổ phần hóa doanh nghiệp của Chính phủ thì nếu như năm 1990 chúng ta có khoảng 12.300 doanh nghiệp Nhà Nước, đến nay chúng ta đã tinh giảm bằng cách tiến hành cổ phần hóa, sáp nhập, giải thể và cho phá sản rất nhiều doanh nghiệp Nhà Nước. Đến hết năm 2005 số lượng doanh nghiệp Nhà Nước đã giảm đáng kể chỉ còn khoảng 3.200 doanh nghiệp, và đang tiếp tục giảm dần theo từng năm. Điều này đã làm tăng hiệu quả sử dụng vốn Nhà Nước, tránh được thất thoát và lãng phí, hiệu quảkinh tế tăng lên rõ rệt. Bước đầu đã từng bước thực hiện thành công chính sách kinh tế của Nhà Nước là không bù lỗ cho doanh nghiệp đồng thời các doanh nghiệp thuộc Nhà Nước cần phải có đóng góp đáng kể đối với nguồn thu ngân sách.
Từ chỗ đa số các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đến nay hầu hết các doanh nghiệp được tổ chức sắp xếp lại đã làm ăn có hiệu quả và giảm sự phụ thuộc vào nguồn ngân sách Nhà Nước.
Hàng loạt doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kém hiệu quả đã được cho giải thể hoặc phá sản, thực hiện theo đúng luật doanh nghiệp, các doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, sự cạnh tranh đã giúp các nhà doanh nghiệp Nhà Nước lớn mạnh cả về quy mô và hiệu quả.
Nguồn lực Nhà Nước thay vì bù lỗ cho các doanh nghiệp nay có điều kiện hơn để đầu tư cho các ngành nghề hoặc lĩnh vực khác, Nhà Nước từ chỗ can thiệp vào các doanh nghiệp nay chuyển sang thực hiện đúng chức năng của mình đó là đưa ra chủ trương, đường lối, chính sách tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển.
Giảm sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp, Nhà Nước mạnh dạn chấp nhận là người đứng sau để các doanh nghiệp tiến lên.
Những thành quả đạt được là đáng khích lệ, bộ mặt đời sống xã hội đã thay đổi rất nhiều. Những thành quả đó là không thể phủ nhận nhưng mô hình kinh tế nào thì cũng sẽ có những hạn chế nhất định vì xã hội luôn thay đổi, giữ mãi một mô hình kinh tế mà không còn phù hợp nữa sẽ dẫn đến tụt hậu ngày càng xa hơn so với thế giới. Mười một năm đàm phán để gia nhập WTO là một thời gian khá dài, khi Việt Nam trở thành thành viên WTO thì cơ hội và thách thức là rất lớn. Việc Việt Nam vào WTO là tổ chức kinh tế thương mại lớn nhất và cuối cùng đến nay tạo ra cho chúng ta rất nhiều cơ hội đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức, đó là sự hội nhập hoàn toàn và đầy đủ vào nên kinh tế thế giới. Nhưng đây chỉ là bước đầu. Nếu ví WTO là một gia đình lớn thì ở đó Việt Nam chúng ta mới chỉ được coi như một đứa trẻ mới biết đi trong gia đình ấy. Nhưng để lớn lên trong gia đình ấy thì cần phải có cách đi riêng thì mới có thể hoà nhập theo kịp và hội nhập vững chắc trong gia đình đó.
Những thành tựu đạt được qua 20 năm đổi mới cần có sự nhìn nhận đánh giá lại biểu hiện quan trọng nhất là sự hoà nhập nhanh với nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp cần có sự thay đổi, chính phủ cần có sự thay đổi và mỗi con người cần có sự thay đổi nếu không muốn mình là một trong những nhân tố tụt hậu lại phía sau. Chính điều này đã thúc đẩy chính phủ Việt Nam đi đến quyết định phải có sự thay đổi căn bản và lớn hơn nữa trong các doanh nghiệp thuộc khối Nhà Nước. Câu hỏi được đặt ra là tại sao phải thay đổi?
Sự cần thiết ra đời một công ty chuyên quản lý vốn của Nhà Nước tại các doanh nghiệp
Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định sau 20 năm đổi mới nhưng nếu nhìn nhận một cách khách quan và so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới, có thể thấy những mặt còn tồn tại và hạn chế của mô hình kinh tế đã qua. Đặc biệt là chính sách đối với các doanh nghiệp cũng như những hạn chế mà các doanh nghiệp Nhà Nước đã, đang và sẽ bộc lộ nếu không nhanh chóng có sự thay đổi có tính chất căn bản. Có thể thấy cùng thời gian nếu so với các doanh nghiệp của các nước cùng khu vực với cơ chế chính sách khác thì các doanh nghiệp của chúng ta đã tụt lại khá xa. Nếu nhìn nhận hệ thống các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp Nhà Nước nói riêng thì có rất ít doanh nghiệp nào thực sự mạnh để có thể cạnh tranh hay đầu tư ra nước ngoài như các nước trong khu vực. Hay nói đúng hơn chúng ta chưa có những thương hiệu đủ mạnh có thể cạnh tranh hiệu quả với các công ty nước ngoài.
Mặc dù đã chuyển đổi mô hình hoạt động từ các doanh nghiệp thuần Nhà Nước sang mô hình các công ty TNHH Nhà Nước một thành viên, hai thành viên, công ty cổ phần, liên doanh liên kết… nhưng hệ thống các doanh nghiệp Nhà Nước chưa thực sự đủ lớn mạnh để đóng góp một cách tích cực vào nền kinh tế. Cho dù đã được tạo điều kiện nhiều hơn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhưng hiệu quả hoạt động chưa tương xứng với tiềm năng cũng như điều kiện mà các doanh nghiệp đang có. So với yêu cầu chung và nhất là các yêu cầu mới trong quá trình hội nhập thì tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp còn chậm, hiệu quả sử dụng vốn và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhà Nước còn thấp. Nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện tốt việc bảo toàn và phát triển vốn, tình trạng ăn vào vốn, mất vốn vẫn tiếp tục diễn ra, phần lớn các doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ, cơ cấu vốn và tài sản còn bất hợp lý, công tác quản lý Nhà Nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp còn nhiều bất cập, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ.
Việc tồn tại quá nhiều doanh nghiệp Nhà Nước hoạt động trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội làm cho việc quản lý hết sức phức tạp. Xét về mặt tổ chức kinh tế thì như vậy là không phù hợp trong giai đoạn hiện nay, không tận dụng được hết nguồn lực trong dân chúng gây thất thoát nguồn lực quốc gia, trong khi mục đích đặt ra không đạt được vì Nhà Nước không thể quản lý hết các doanh nghiệp này. Thay vì Nhà Nước phải đầu tư, xây dựng các doanh nghiệp phục vụ nhu cầu dân sinh… thì Nhà Nước có thể nhường lại cho các thành phần kinh tế khác bằng cách khuyến khích, hỗ trợ, hợp tác, liên doanh liên kết hoặc Nhà Nước và nhân dân cùng làm. Thực chất trong những năm qua hoạt động này đã đạt được những thành tựu nhất định cần phát huy hơn nữa. Tuy nhiên trước tình hình mới, trước những cơ hội và thách thức lớn mà chúng ta chưa bao giờ có được như ngày hôm nay thì việc thúc đẩy các doanh nghiệp Nhà Nước tiến hành tổ chức, sắp xếp lại để làm tăng tính hiệu quả trong hoạt động là điều phải tính đến trước tiên và quan trọng nhất. Vì mục đích của các doanh nghiệp đó là phải đặt lợi ích và hiệu quả kinh tế lên trước tiên.
Để tổ chức và quản lý các doanh nghiệp Nhà Nước sao cho có hiệu quả đồng thời làm tăng tính tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp này, tháng 6/2005 chính phủ đã quyết định thành lập Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước. Tên giao dịch quốc tế: State Capital Investment Corporation – SCIC. Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước đã chính thức đi vào hoạt động vào tháng 8/2006.
Mô hình Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước Việt Nam
Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước là tổ chức kinh tế đặc biệt của Nhà Nước, được thành lập theo quyết định số 151/2005/QĐ – TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng chính phủ để quản lý đầu tư kinh doanh vốn Nhà Nước tại các doanh nghiệp, các lĩnh vực theo quy định của pháp luật.
Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà Nước và các luật khác có liên quan.
Tên gọi tiếng việt: Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước
Tên giao dịch quốc tế : State Capital Investment Corporation
Viết tắt : SCIC
Trụ sở công ty tại Hà Nội có các Công ty thành viên, chi nhánh, văn phòng đại diện tại một số khu vực trong và ngoài nước.
Tổng Công ty có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, tổ chức hạch toán, kế toán tập trung, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà Nước và các Ngân hàng thương mại trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Vốn của Tổng công ty
Tổng công ty được Nhà Nước cấp vốn ban đầu để thành lập và hoạt động vốn điều lệ tại thời điểm thành lập của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước là 5.000 tỷ đồng và được bổ sung dần trong quá trình hoạt động.
Khi có sự tăng, giảm vốn điều lệ Tổng công ty phải điều chỉnh vốn điều lệ trong giấy chứng nhận đăng ký kinh do

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Luận văn Giải pháp thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp tại Việt Nam và kế hoạch niêm yết cổ phiếu của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *