[block id=”bo-sung-1″]

1. Lý do chọn đề tài
Thuế ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của Nhà nước là một vấn đề hết sức quan trọng đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Từ những năm 1990 nước ta áp dụng thuế doanh thu đối với đơn vị sản xuất kinh doanh để tạo và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, phục vụ yêu cầu kiểm kê, quản lý, hướng dẫn cho mọi cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động có lợi cho nền kinh tế. Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng thuế doanh thu đã bộc lộ những nhược điểm về mức thuế suất, hiện tượng thuế chồng thuế, ảnh hưởng xấu đến sản xuất kinh doanh và nguồn thu của ngân sách Nhà nước.
Tháng 5/1997 Quốc hội chính thức ban hành luật thuế GTGT, áp dụng từ ngày 1/1/1999 góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hoá và dịch vụ, khuyến khích phát triển nền kinh tế quốc dân, động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng, các tổ chức kinh tế vào ngân sách Nhà nước.
Thuế GTGT ra đời từ rất lâu và áp dụng rộng rãi trên thế giới. Nhưng đối với nước ta đây là sắc thuế mới, còn non trẻ so với sự vận động của cơ chế kinh tế hiện nay nên đây cũng chính là khu vực mà NSNN bị thất thu lớn nhất. Do vậy, cần có nhiều sự đóng góp hoàn thiện để đưa ra một chính sách thuế thống nhất và đúng đắn đảm bảo sự lành mạnh về cạnh tranh, góp phần xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, đưa nền kinh tế đi lên bước phát triển cao.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của thuế GTGT với sự phát triển của đất nước, dưới sự hướng dẫn tận tình của giảng viên Th.S.Thái Thị Thái Nguyên, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán thuế GTGT tại Công ty TNHH Thực Phẩm Rich Beauty VN” làm chuyên đề luận văn tốt nghiệp của mình với hy vọng sẽ góp chút ít suy nghĩ nhỏ bé của mình để góp phần hoàn thiện hơn về công tác kế toán thuế GTGT tại công ty TNHH Thực Phẩm Rich Beauty .
2. Mục tiêu thực hiện đề tài
 Mục tiêu tổng quát:
+) Tìm hiểu công tác kế toán thuế GTGT tại công ty TNHH Thực Phẩm Rich Beauty.
 Mục tiêu cụ thể:
+) Việc nghiên cứu đề tài này giúp em nắm rõ hơn về công tác kế toán thuế GTGT mà công ty thực hiện. Chủ yếu về tình hình áp dụng luật thuế vào hạch toán, phương pháp hạch toán, chứng từ, sổ sách kế toán sử dụng, báo cáo thuế gửi cho thuế.
+) So sánh những gì tìm hiểu được thực tế tại doanh nghiệp có gì khác so với những kiến thức được học ở trường và đọc ở trong sách. Từ đó, có thêm được kiến thức thực tế phục vụ cho công việc sau này. Đồng thời, rút ra những ưu điểm, khuyết điểm trong công tác kế toán thuế GTGT đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện hơn công tác kế toán tại công ty.
3. Phạm vi nghiên cứu:
 Về nội dung:
+) Khóa luận tập trung nghiên cứu chi tiết về công tác kế toán thuế giá trị gia tăng
( GTGT) tại công ty TNHH Thực Phẩm Rich Beauty
 Về không gian:
+) Khóa luận được thực hiện tại công ty TNHH Thực Phẩm Rich Beauty VN.
Địa chỉ: Khu Cảng Cá Tân Sơn, Thái Thụy, Thái Bình
 Về thời gian:
+) Khóa luận được thực hiện từ ngày 06/04/2012 đến ngày 06/05/2012.
Việc phân tích lấy số liệu năm 2010,2011

hoan thien cong tac ke toan thue gtgt tai cong ty tnhh thuc pham rich beauty vn
doc81 trang | Chia sẻ: tienduy345 | Ngày: 14/04/2016 | Lượt xem: 2922 | Lượt tải: 20download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Hoàn thiện công tác kế toán thuế GTGT tại Công ty TNHH Thực Phẩm Rich Beauty VN, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thuế ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của Nhà nước là một vấn đề hết sức quan trọng đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Từ những năm 1990 nước ta áp dụng thuế doanh thu đối với đơn vị sản xuất kinh doanh để tạo và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, phục vụ yêu cầu kiểm kê, quản lý, hướng dẫn cho mọi cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động có lợi cho nền kinh tế. Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng thuế doanh thu đã bộc lộ những nhược điểm về mức thuế suất, hiện tượng thuế chồng thuế, ảnh hưởng xấu đến sản xuất kinh doanh và nguồn thu của ngân sách Nhà nước.
Tháng 5/1997 Quốc hội chính thức ban hành luật thuế GTGT, áp dụng từ ngày 1/1/1999 góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hoá và dịch vụ, khuyến khích phát triển nền kinh tế quốc dân, động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng, các tổ chức kinh tế vào ngân sách Nhà nước.
Thuế GTGT ra đời từ rất lâu và áp dụng rộng rãi trên thế giới. Nhưng đối với nước ta đây là sắc thuế mới, còn non trẻ so với sự vận động của cơ chế kinh tế hiện nay nên đây cũng chính là khu vực mà NSNN bị thất thu lớn nhất. Do vậy, cần có nhiều sự đóng góp hoàn thiện để đưa ra một chính sách thuế thống nhất và đúng đắn đảm bảo sự lành mạnh về cạnh tranh, góp phần xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, đưa nền kinh tế đi lên bước phát triển cao.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của thuế GTGT với sự phát triển của đất nước, dưới sự hướng dẫn tận tình của giảng viên Th.S.Thái Thị Thái Nguyên, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán thuế GTGT tại Công ty TNHH Thực Phẩm Rich Beauty VN”  làm chuyên đề luận văn tốt nghiệp của mình với hy vọng sẽ góp chút ít suy nghĩ nhỏ bé của mình để góp phần hoàn thiện hơn về công tác kế toán thuế GTGT tại công ty TNHH Thực Phẩm Rich Beauty .
2. Mục tiêu thực hiện đề tài
Mục tiêu tổng quát:
+) Tìm hiểu công tác kế toán thuế GTGT tại công ty TNHH Thực Phẩm Rich Beauty.
Mục tiêu cụ thể:
+) Việc nghiên cứu đề tài này giúp em nắm rõ hơn về công tác kế toán thuế GTGT mà công ty thực hiện. Chủ yếu về tình hình áp dụng luật thuế vào hạch toán, phương pháp hạch toán, chứng từ, sổ sách kế toán sử dụng, báo cáo thuế gửi cho thuế.
+) So sánh những gì tìm hiểu được thực tế tại doanh nghiệp có gì khác so với những kiến thức được học ở trường và đọc ở trong sách. Từ đó, có thêm được kiến thức thực tế phục vụ cho công việc sau này. Đồng thời, rút ra những ưu điểm, khuyết điểm trong công tác kế toán thuế GTGT đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện hơn công tác kế toán tại công ty.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung:
+) Khóa luận tập trung nghiên cứu chi tiết về công tác kế toán thuế giá trị gia tăng
( GTGT) tại công ty TNHH Thực Phẩm Rich Beauty
Về không gian:
+) Khóa luận được thực hiện tại công ty TNHH Thực Phẩm Rich Beauty VN.
Địa chỉ: Khu Cảng Cá Tân Sơn, Thái Thụy, Thái Bình
Về thời gian:
+) Khóa luận được thực hiện từ ngày 06/04/2012 đến ngày 06/05/2012.
Việc phân tích lấy số liệu năm 2010,2011
4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập thông tin:
+) Thu thập thông tin phản ánh tình hình thực tế tại công ty TNHH Thực Phẩm Rich Beauty Việt Nam. Việc thu thập thông tin chính xác, khoa học sẽ phục vụ tốt và đảm bảo yêu cầu, mục đích của quá trình nghiên cứu
Phương pháp phân tích đánh giá:
+) Sau khi thu thập số liệu cần tiến hành phân tích các số liệu ghi chép trên sổ sách của công ty, tức là chia nhỏ các vấn đề nghiên cứu để biến từ phức tạp trở nên đơn giản. Từ kết quả phân tích sẽ thấy những ưu nhược điểm của công tác kế toán từ đó có thể đưa ra những giải pháp phù hợp để hoàn thiện.
Phương pháp phân tích so sánh:
+) Là việc so sánh các vấn đề có cùng nội dung nhưng ở những thời điểm khác nhau, để thông qua đó thấy mức độ tăng giảm và xu thế biến động của đối tượng.
5. Kết cấu khóa luận:
Nội dung của khóa luận đề cập đến tình hình phát triển và thực trạng công tác kế toán thuế trong công ty. Kết cấu khóa luận gồm 3 phần như sau:
Phần1: Lý luận chung về Thuế Giá trị gia tăng( GTGT)
Phần 2: Thực trạng công tác kế toán thuế GTGT tại công ty TNHH Thực Phẩm Rich Beauty VN.
Phần 3: Đánh giá về công tác kế toán thuế GTGT tại công ty TNHH Thực Phẩm Rich Beauty VN và Một số giải pháp hoàn thịên.
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, em xin chân thành cảm ơn cô giáo, Th.S Thái Thị Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em. Em rất trân trọng và biết ơn Ban lãnh đạo công ty TNHH Rich Beauty đã tạo điều kiên để em được tiếp xúc với công tác kế toán thuế thực tê tại công ty. Tuy nhiên với kiến thức chuyên môn còn hạn chế và thời gian được tiếp xúc thực tế với công ty chưa nhiều nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy, cô giáo để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Bình, ngày 06 tháng 04 năm 2012
Sinh viên
Phạm Thị Phương
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG (GTGT)
Sự cần thiết của Thuế GTGT
Chỉ có sản xuất mới tạo ra của cải vật chất cho xã hội và nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước. Do đó Nhà nước phải có trách nhiệm quan tâm, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, lưu thông được thông suốt.
Một môi trường đầu tư được coi là thuận lợi nếu trong đó có những cơ chế chính sách được qui định phù hợp, rõ ràng ổn định, ít biến động để tạo cho doanh nghiệp yên tâm bỏ vốn vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Qua việc thực hiện hệ thống thuế mới, đã tạo điều kiện cho nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển ổn định, khu vực kinh tế nhà nước được xắp xếp hợp lý hơn, các doanh nghiệp nhà nước hoạt động ngày càng có hiệu quả, trình độ tổ chức và quản lý kinh doanh ngày càng tốt hơn.
Thuế doanh thu đã được áp dụng từ lâu, với đặc trưng cơ bản là có nhiều thuế suất phân biệt theo ngành hàng, mặt hàng; thuế thu hàng tháng và tính trên tổng doanh thu bán hàng thuế doanh thu đã bộc lộ nhiều nhược điểm mà nhược điểm lớn nhất là việc thu thuế doanh thu còn trùng lắp, thuế thu chồng lên thuế. Bên cạnh hoạt động SXKD, xuất khẩu chưa được xem xét ưu đãi đúng mức. Việc quy định quá nhiều thuế suất (11 mức thuế suất; thấp nhất là0,5%, cao nhất là 30%) của luật thuế doanh thu tạo cho đối tượng nộp thuế dễ lợi dụng để tính nộp thuế dưới mức nghĩa vụ quy định. Do đó, thuế doanh thu không phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Để khắc phục những mặt hạn chế của luật doanh thu, Quốc hội đã quyết định áp dụng luật thuế GTGT thay cho thuế doanh thu và chính thức được thi hành từ 1/1/1999 GTGT là thuế tính tiền khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ ở từng khâu bán hàng nên nó không trùng lặp, thuế GTGT chỉ đánh vào phần giá trị đã chịu thuế ở khâu trước đó trở nên rất khoa học và cần thiết đối với CNH – HĐH, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế trong điều kiện hiện nay.
1.2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế GTGT
1.2.1. Khái niệm
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ (HHDV) phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Thuế GTGT còn được gọi là VAT( Value Added Tax) là một loại thuế gián thu đánh trên phần giá trị tăng thêm qua mỗi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, tổng số thuế thu được ở các khâu bằng chính số thuế tính trên giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng
1.2.2. Đặc điểm của VAT
Thuế GTGT là loại thuế gián thu, được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình luân chuyển từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Thuế GTGT là loại thuế đánh vào tiêu dùng, có phạm vi đối tượng thu rất rộng, bao gồm mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. Thuế GTGT được áp dụng với cả hàng hóa, dịch vụ trong nước kể cả hàng nhập khẩu loại trừ một số hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế theo quy định cụ thể của từng nước. Đặc điểm này thể hiện ưu tính của thuế GTGT đó là mặc dù mức thuế suất quy định không cao nhưng kết quả đem lại số thu cho Ngân sách Nhà nước rất lớn, lại là loại thuế gắn liền với giá bán nên dễ thu hơn các loại thuế trực thu khác.
Thuế GTGT là loại thuế mang tính trung lập cao bởi vì mục đích của nó không nhằm điều chỉnh sự chênh lệch về thu nhập hay tài sản như thuế thu nhập, thuế tài sản.
Là loại thuế gián thu điển hình, được tính dựa trên giá trị sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chứ không căn cứ vào hình thái hiện vật cũng như công dụng của chúng.
1.2.3. Vai trò của VAT
Thuế giá trị gia tăng thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc được cung ứng dịch vụ, nên tạo được nguồn thu lớn và ổn định cho ngân sách nhà nước.
Thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ nên không phải đi sâu xem xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ cuả các khoản chi phí, làm cho việc tổ chức quản lý thu tương đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu.
Ðối với hàng xuất khẩu không những không nộp thuế giá trị gia tăng mà còn được khấu trừ hoặc được hoàn lại số thuế giá trị gia tăng đầu vào nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế.
Thuế giá trị gia tăng cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa.
Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao. Việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng được thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua vào đã thúc đẩy người mua phải đòi hỏi người bán xuất hoá đơn, ghi doanh thu đúng với hoạt động mua bán; khắc phục được tình trạng thông đồng giữa người mua và người bán để trốn lậu thuế. ở khâu bán lẻ thường xảy ra trốn lậu thuế. Người tiêu dùng không cần đòi hỏi hoá đơn, vì đối với họ không còn xảy ra việc khấu trừ thuế. Tuy vậy, ở khâu bán lẻ cuối cùng, giá trị tăng thêm thường không lớn, số thuế thu ở khâu này không nhiều.
Thuế giá trị gia tăng thường có ít thuế suất, bảo đảm sự đơn giản, rõ ràng. Với ít thuế suất, loại thuế này mang tính trung lập, vì về cơ bản không can thiệp sâu vào mục tiêu khuyến khính hay hạn chế sản xuất, kinh doanh dịch vụ, tiêu dùng, theo ngành nghề cụ thể; không gây phức tạp trong việc xem xét từng mặt hàng, ngành nghề có thuế suất chênh lệch nhau nhiều.
Nâng cao được tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cuả người nộp thuế. Thông thường, trong chế độ kê khai nộp thuế giá trị gia tăng, cơ quan thuế tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh tự kiểm tra, tính thuế, kê khai và nộp thuế. Từ đó, tạo tâm lý và cơ sở pháp lý cho đơn vị kinh doanh không phải hiệp thương, thoả thuận về mức doanh thu, mức thuế với cơ quan thuế. Việc kiểm tra thuế giá trị gia tăng cũng có mặt thuận lợi vì đã buộc người mua, người bán phải nộp và lưu giữ chứng từ, hoá đơn đầy đủ nên việc thu thuế tương đối sát với hoạt động kinh doanh từ đó tập trung được nguồn thu thuế giá trị gia tăng vào ngân sách nhà nước ngay từ khâu sản xuất và thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trước nên hạn chế thất thu về thuế.
Tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ; việc tính tuế đầu ra được khấu trừ số thuế đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả người mua và người bán cùng thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn, chứng từ.
Việc khấu trừ thuế đã nộp ở đầu vào còn có tác dụng khuyến khích hiện đại hoá, chuyên môn hoá sản xuất, tăng cường đầu tư mua sắm trang thiết bị mới để hạ giá thành sản phẩm.
Thuế giá trị gia tăng được ban hành gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung một số loại thuế khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu…góp phần làm cho hệ thống chính sách thuế cuả Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với sự vận động và phát triển cuả nền kinh tế thị trường, tương đồng với hệ thống thuế trong khu vực và trên thế giới, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp tác kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Nhìn chung trong các loại thuế gián thu, VAT được coi là phương pháp thu tiên bộ nhất hiện nay, được đánh giá cao do đạt được các mục tiêu lớn cuả chính sách thuế.Tuy nhiên, trong thời gian đầu áp dụng thuế giá trị gia tăng đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc và Nhà nước ta đã từng bước tháo gỡ những khó khăn đó trong quá trình thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng.
1.3. Đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế
1.3.1 Đối tượng chịu thuế GTGT
Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) là hàng hoá, dịch vụ dùng chosản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT được quy đinh tại điều 5 luật thuế Giá trị gia tăng.
1.3.2 Đối tượng không chịu thuế GTGT
Theo Luật thuế giá trị gia tăng 2008 số 13/2008/QH12 có 25 nhóm đối tượng sau thuộc diện không chịu thuế GTGT. Những nhóm đối tượng đó có những đặc điểm chung sau:
– Là sản phẩm của những ngành sản xuất kinh doanh trong những điều kiện sản xuất khó khăn, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, sản phẩm sản xuất ra lại dùng cho chính người sản xuất và phục vụ cho đời sống xã hội
– Là sản phẩm hàng hóa thiết yếu phục vụ nhu cầu toàn xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất văn hóa không ngừng tăng lên của con người
– Là sản phẩm hàng hóa phục vụ nhu cầu xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận
– Là sản phẩm, hàng hóa dịch vụ mà thông lệ quốc tế không thu thuế GTGT
– Là sản phẩm hàng hóa dịch vụ được ưu dãi vì mang tính xã hội và tính nhân đạo cao
– Các sản phẩm hàng hóa dịch vụ do nhà nước quy định không thu thuế GTGT
– Hàng hóa, dịch vụ của cá nhân kinh doanh có thu nhập thấp dưới mức lương tối thiểu quy định cho công chức nhà nước
1.3.3. Đối tượng nộp thuế GTGT
Người nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng .Tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ bao gồm:
– Các tổ chức cá nhân tổ chức sản xuất kinh doanh theo luật doanh nghiệp, luật doanh nghiệp nhà nước, luật hợp tác xã
– Các tổ chức kinh tế của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức đơn vị sự nghiệp khác
– Các tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam, các công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
– Các cá nhân, hộ gia đình sản xuất kinh doanh, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng kinh doanh khác.
1.4. Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế GTGT là Giá tính thuế và Thuế suất
1.4.1. Giá tính thuế
– Đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT cơ sở sản xuất kinh doanh khi bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ phải ghi rõ trên hoá đơn các yếu tố theo quy định là giá bán chưa có thuế, thuế GTGT phải nộp và giá thanh toán (người mua phải trả cho người bán trong đó có cả thuế GTGT).
Ví dụ: cơ sở X bán 100 đôi giầy, giá chưa có thuế là 300.000đ/đôi. Ta có:
Giá tính thuế của số giày này là: 100 đôi x 300.000đ / đôi = 30.000.000đ:
– Đối với hàng hoá nhập khẩu tại cửa khẩu (CIF) cộng với thuế nhập khẩu
Ví dụ: Cơ sở X nhập khẩu xe máy nguyên chiếc, giá nhập khẩu tại cửa khẩu (CIF) là 26.000.000đ/ chiếc.Thuế suất nhập khẩu 50%. Ta có:
Giá tính thuế của xe máy nhập khẩu là 26.000.000đ + 26.000.000đ x 50% = 39.000.000đ.
+ Nếu hàng nhập khẩu được miễn giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế GTGT là giá nhập khẩu tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu theo mức thuế đã được miễn giảm.
– Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, sử dụng nội bộ, biếu tặng, giá tính thuế GTGT là giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hạc tương đương tại thời điểm phát sinh hoạt động này.
Ví dụ: Cơ sở X tặng cơ quan M 20 đôi giầy . Khi đó:
Giá tính thuế GTGT của số giầy đó là: 20 đôi x 300.000đ/ đôi = 600.000đ
– Đối với dịch vụ do phía nước ngoài cung cấp cho các đối tượng tiêu dùng ở Việt Nam thì giá chưa có thuế GTGT được xác định theo hợp đồng, trường hợp hợp đồng lại không xác định cụ thể số thuế GTGT phải nộp thì giá tính thuế GTGT là giá dịch vụ mà phía Việt Nam phải trả cho phía nước ngoài.
Ví dụ: Công ty X thuê một Công ty kiểm toán nước ngoài vào kiểm toán, giá thanh toán theo hợp đồng phải trả là 500 triệu đồng thì giá tính thuế GTGT của công ty A về dịch vụ này là 500 triệu đồng.
– Đối với trường hợp cho thuê tài sản (không phân biệt tài sản và hình thức cho thuê) giá tính thuế là giá cho thuê chưa có thuế. Nếu cho thuê trong nhiều kỳ mà tiền thuê trả từng kỳ hoặc trả trước cho nhiều kỳ thì giá tính thuế GTGT là số tiền thuê đã trả giá tính thuế còn bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm mà đơn vị cho thuê được hưởng.
– Đối với hàng bán theo hình thức trả góp, giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế trả 1 lần không tính theo số tiền trả góp từng kỳ (không bao gồm khoản lãi trả góp).
– Đối với gia công hàng hoá, giá tính thuế GTGT là giá gia công chưa có thuế bao gồm: tiền công, nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và chi phí khác để gia công.
– Đối với hoạt động xây dựng và lắp đặt, giá tính thuế GTGT là giá xây dựng, lắp đặt chưa có thuế GTGT. Trường hợp xây dựng, lắp đặt thực hiện thanh toán theo tiến độ thì giá tính thuế GTGT là giá thanh toán từng hạng mục công trình hoặc phần việc hoàn thành, bàn giao.
– Đối với hàng hoá, dịch vụ có tính đặc thù được dùng loại chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán thì giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT. Giá chưa có thuế làm căn cứ tính thuế GTGT được tính như sau:
Giá chưa thuế GTGT = Giá thanh toán / [1 + (%) thuế suất của hàng hoá/dịch vụ đó]
Ví dụ: Công ty vận tải hành khách Thái Bình- Thái Nguyên trong tháng 4/2012 nhận vận chuyển 1.000 lượt hành khách. Giá 1 vé 80.000đ/lượt/khách.
Vậy tổng doanh thu (đã có thuế GTGT là):1.000 x 80.000 = 80.000.000đ
Tổng doanh thu (chưa thuế GTGT) = 80.000.000đ / [ 1 + (10%)] = 71.200.000đ
– Đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ hưởng tiền công, hoặc tiền hoa hồng như dịch vụ môi giới, đại lý… Thì giá tính thuế GTGT là tiền công hoặc tiền hoa hồng thu được từ hoạt động đó.
Ví dụ: Cơ sở A làm đại lý bán xe đạp tỷ lệ hoa hồng được hưởng 2 % trên doanh số. Tháng 6/2012 cơ năng bán được 200 xe đạp, giá (chưa có thuế GTGT) là 1.000.000đ/chiếc.
Giá tính thuế GTGT của dịch vụ này ở cơ sở A là: 200 x 1.000.000 x 2 % = 4.000.000đ
1.4.2. Thuế suất thuế GTGT
Nguyên tắc áp dụng thuế suất thuế GTGT là áp dụng thống nhất theo loại hàng hóa, dịch vụ ở các khâu nhập khẩu, sản xuất gia công hay kinh doanh thương mại. Hiện hành các mức thuế suất thuế GTGT gồm có 0%, 5 % và 10 %. Việc quy định các mức thuế suất khác nhau thể hiện chính sách  thuế điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng đối với hàng hóa, dịch vụ. Thuế suất thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ quy định cụ thể như sau:
–  Thuế suất 0%: Mức thuế này áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế và hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều 5 Luật thuế GTGT. Khi áp dụng mức thuế suất 0% có nghĩa là nhà nước đã tài trợ cho doanh nghiệp
– Thuế suát 5%: Mức thuế suất này được áp dụng với những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cần khuyến khích hay sản xuất còn đang gặp nhiều khó khăn
– Thuế suất 10%: Là mức thuế suất phổ biến được áp dụng với tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ không được quy định tại mức thuế suất 0% và 5%. Đây là mức thuế suất tạo ra nguồn thu lớn cho NSNN
1.5. Các phương pháp tính thuế GTGT
Các tổ chức doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo một trong hai phương pháp là: phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp.Phương pháp này phải được đăng kí trước với cục thuế khi bắt đầu kỳ kinh doanh.
1.5.1. Phương pháp khấu trừ ( phương pháp gián tiếp)
Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Luận văn Hoàn thiện công tác kế toán thuế GTGT tại Công ty TNHH Thực Phẩm Rich Beauty VN

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *