[block id=”bo-sung-1″]

Bài viết tập trung phân tích những thay đổi trong các quy định vềquyền con người,
quyền và nghĩa vụcủa công dân trong Hiến pháp năm 2013 trên cơsởso sánh với các quy định
liên quan của Hiến pháp năm 1992 và luật nhân quyền quốc tế, đặc biệt là Công ước quốc tếvềcác
quyền dân sự, chính trịnăm 1966 mà Việt Nam đã là thành viên. Thông qua sựphân tích so sánh,
các tác giả đã đánh giá sựtiến bộcủa chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụcủa công dân
trong Hiến pháp 2013, đồng thời chỉra những thuận lợi, thách thức trong việc thực hiện chế định
này trong thực tế.

nhung_diem_moi_tien_bo_ve_quyen_con_nguoi_quyen_cong_dan_tro

pdf9 trang | Chia sẻ: superlens | Ngày: 19/09/2015 | Lượt xem: 2670 | Lượt tải: 34download

Bạn đang xem nội dung tài liệu Những điểm mới tiến bộ về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp 2013 và việc thực thi, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 3 (2014) 41-49
41
TRAO ĐỔI
Những điểm mới tiến bộ về quyền con người, quyền công dân
trong Hiến pháp 2013 và việc thực thi
Vũ Công Giao*, Nguyễn Sơn Đông
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 25 tháng 6 năm 2014
Chỉnh sửa ngày 22 tháng 8 năm 2014; Chấp nhận đăng ngày 16 tháng 9 năm 2014
Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích những thay đổi trong các quy định về quyền con người,
quyền và nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp năm 2013 trên cơ sở so sánh với các quy định
liên quan của Hiến pháp năm 1992 và luật nhân quyền quốc tế, đặc biệt là Công ước quốc tế về các
quyền dân sự, chính trị năm 1966 mà Việt Nam đã là thành viên. Thông qua sự phân tích so sánh,
các tác giả đã đánh giá sự tiến bộ của chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân
trong Hiến pháp 2013, đồng thời chỉ ra những thuận lợi, thách thức trong việc thực hiện chế định
này trong thực tế.
Từ khóa: Hiến pháp, quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân, luật nhân quyền quốc tế,
nguyên tắc giới hạn quyền.
Hiến pháp 2013 gồm 11 chương, 120 điều
(so với Hiến pháp 1992 giảm 01 chương, 27
điều, chỉ giữ nguyên 7 điều, bổ sung 12 điều
mới và sửa đổi 101 điều). Mức độ sửa đổi như
vậy là rất lớn, trong đó chế định về quyền con
người, quyền công dân chứa đựng nhiều điểm
mới nhất. *
1. Những nội dung mới về quyền con người,
quyền công dân của Hiến pháp 2013
Thứ nhất, lần sửa đổi này đã đổi tên chương
là “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ của
công dân” và chuyển lên vị trí thứ 2 (so với vị
_______
* Tác giả liên hệ. ĐT: 84-4-37547913
Email: giaochr@gmail.com
trí thứ 5 trong Hiến pháp 1992). Thay đổi này
đã khắc phục tình trạng tên gọi cũ “quyền và
nghĩa vụ công dân” không bao quát hết nội
dung của chương, và vị trí cũ của chương (thứ
5) trong Hiến pháp 1992 thể hiện sự quan tâm
chưa đúng mức với vấn đề quyền con người,
quyền công dân.
Thứ hai, Hiến pháp 2013 không còn đồng
nhất quyền con người và quyền công dân (như
Điều 50 Hiến pháp 1992), mà đã sử dụng tương
đối hợp lý hai thuật ngữ này cho các quyền/tự
do hiến định. Ví dụ, nếu như các quyền bình
đẳng trước pháp luật; quyền tự do kinh doanh;
quyền sở hữu tư nhân về tài sản và tư liệu sản
xuất; quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ,
sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi
V.C. Giao, N. S. Đông / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 3 (2014) 41-49
42
ích từ các hoạt động đó; quyền được bảo vệ,
chăm sóc sức khỏe; quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo; quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và
nhân phẩm trong Hiến pháp 1992 chỉ quy
định cho công dân, nhưng trong Hiến pháp
2013 quy định chủ thể quyền là tất cả mọi
người. Như vậy, với những quyền này, không
chỉ công dân Việt Nam mà tất cả những người
nước ngoài có mặt hợp pháp trên lãnh thổ Việt
Nam cũng được bảo vệ.
Thứ ba, trong khi Hiến pháp 1992 chỉ đề
cập đến nghĩa vụ tôn trọng ở Điều 50, Hiến
pháp 2013 đã ghi nhận cả ba nghĩa vụ của nhà
nước (tương ứng với các quy định về nghĩa vụ
quốc gia theo luật nhân quyền quốc tế), đó là
tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người
(trong các Điều 3 và 14). Sự thay đổi này rất
quan trọng, vì nó không chỉ bảo đảm sự hài hòa
với luật nhân quyền quốc tế, mà còn tạo cơ sở
hiến định ràng buộc các cơ quan nhà nước phải
thực hiện đầy đủ và nghiêm túc những nghĩa vụ
về quyền con người, quyền công dân trong thực
tế, đặc biệt là hai nghĩa vụ bảo vệ và bảo đảm.
Thứ tư, Hiến pháp 2013 lần đầu tiên quy
định nguyên tắc về giới hạn quyền (Khoản 2
Điều 16). Đây là nguyên tắc đã được nêu trong
luật nhân quyền quốc tế và trong hiến pháp của
một số quốc gia. Việc hiến định nguyên tắc này
có ý nghĩa quan trọng mà sẽ được phân tích
riêng ở mục 2 dưới đây.
Thứ năm, Hiến pháp 2013 ghi nhận một số
quyền mới mà Hiến pháp 1992 và các hiến
pháp trước đó của Việt Nam đều chưa đề cập,
bao gồm: bao gồm: Quyền sống (Điều 21); Các
quyền về văn hóa (Điều 41); Quyền xác định
dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn
ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); Quyền sống trong
môi trường trong lành (Điều 43); Quyền của
công dân không bị trục xuất, giao nộp cho nước
khác (Điều 17 khoản 2); Quyền có nơi ở hợp
pháp (Điều 22); Quyền hưởng an sinh xã hội
(Điều 34) Những quyền mới này đã mở rộng
phạm vi bảo vệ của hiến pháp với các quyền
con người, quyền công dân trên cả hai lĩnh vực
dân sự, chính trị (Điều 21, 17, 42) và kinh tế, xã
hội, văn hóa (Điều 41, 42, 43,22,34). Chúng
đáp ứng những nhu cầu mới về quyền con
người nảy sinh trong bối cảnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa (Điều 43, 22, 34) và hội nhập quốc
tế (Điều 17, 41, 42,22) của nước ta.
Thứ sáu, Hiến pháp 2013 đã củng cố hầu
hết các quyền đã được ghi nhận trong Hiến
pháp 1992 (quy định rõ hơn hoặc tách thành
điều riêng), bao gồm: Bình đẳng trước pháp luật
(Điều 16); Cấm tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục
hình (Điều 20 khoản 1); Bảo vệ đời tư và nơi ở
(Điều 21, 22); Tiếp cận thông tin (Điều 25);
Tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28);
Bình đẳng giới (Điều 26); Bỏ phiếu trong trưng
cầu ý dân (Điều 29); Tố tụng công bằng (Điều
31); Sở hữu tư nhân (Điều 32); Lao động, việc
làm (Điều 35).Tuy không phải là những quyền
mới, song nhiềusửa đổi, bổ sung này có ý nghĩa
rất quan trọng, cụ thể như sau:
– Bình đẳng trước pháp luật (Điều 16):
Trong Hiến pháp 2013, chủ thể của quyền này
đã được mở rộng từ “công dân” (trong Hiến
pháp 1992) sang “tất cả mọi người”, đồng thời
tính chất và phạm vi của sự bình đẳng được xác
định rõ ràng, đó là không bị phân biệt đối xử
trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn
hóa, xã hội. Với quy định sửa đổi này, quyền
bình đẳng trước pháp luật sẽ được bảo đảm ở
mức độ rộng, chặt chẽ và phù hợp hơn với luật
nhân quyền quốc tế.
– Cấm tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình
(Điều 20 khoản 1): Hiến pháp 2013 lần đầu tiên
đề cập đến cấm “tra tấn”, đồng thời nhấn mạnh
cấm bất kỳ hình thức bạo lực, đối xử nào khác
xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh
dự, nhân phẩm của tất cả mọi người. Quy định
V.C. Giao, N. S. Đông / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 3 (2014) 41-49
43
này cụ thể, rõ ràng và rộng hơn rất nhiều (cả về
hành vi bị cấm và chủ thể được bảo vệ) so với
quy định cũ ở Điều 71 Hiến pháp 1992 (chỉ cấm
truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân
phẩm của công dân). Nó tạo cơ sở hiến định để
nội luật hóa và thực thi hiệu quả Công ước của
Liên hợp quốc về chống tra tấn và những sự đối
xử, trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ nhục
mà Việt Nam vừa ký kết cuối năm 2013.
– Bảo vệ đời tư và nơi ở (Điều 21, 22): Hiến
pháp 2013 mở rộng chủ thể được bảo vệ quyền
này từ công dân sang mọi người, đồng thời quy
định trong hai điều riêng (Điều 21 bảo vệ quyền
về nơi ở, Điều 22 bảo vệ quyền về đời tư).
Quyền về đời tư lần đầu tiên được quy định rõ,
bao gồm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí
mật gia đình, danh dự, uy tín của cá nhân. So
với quy định cũ ở Điều 73 Hiến pháp 1992 (chỉ
nói đến quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện
tín), Điều 22 Hiến pháp 2013 còn bảo vệ quyền
bí mật về các hình thức trao đổi thông tin riêng
tư khác. Tất cả những điểm mới này cho thấy
phạm vi bảo vệ quyền về đời tư của Hiến pháp
2013 rộng hơn đáng kể so với Hiến pháp 1992.
– Tiếp cận thông tin (Điều 25): Sự điều
chỉnh ở đây chỉ là đổi thuật ngữ được (quyền
được thông tin trong Hiến pháp 1992) sang tiếp
cận (quyền tiếp cận thông tin trong Hiến pháp
2013). Tuy nhiên, chuyển đổi này có ý nghĩa rất
lớn, bởi quyền tiếp cận thông tin theo luật quốc
tế không chỉ bao gồm quyền được [tiếp nhận]
thông tin như trong Hiến pháp 1992 mà còn bao
gồm hai quyền khác đó là quyền được tìm
kiếm/yêu cầu cung cấp thông tin, và quyền được
chia sẻ, phổ biến thông tin. Với sự chuyển đổi
ngắn gọn đó, quyền tiếp cận thông tin trong
Hiến pháp 2013 đã tương thích với nội hàm của
quyền này theo luật quốc tế. Điều này có ý
nghĩa rất lớn trong thực tế ở nước ta, bởi lẽ theo
nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền
tiếp cận thông tin không chỉ là điều kiện bảo
đảm cho việc thực thi dân chủ (thông tin là oxy
của dân chủ) mà còn là một “vũ khí quan trọng
nhất để phòng, chống tham nhũng”.
– Tham gia quản lý nhà nước và xã hội
(Điều 28): Điểm mới đó là Hiến pháp 2013
không chỉ tái khẳng định quyền này như trong
Hiến pháp 1992, mà còn nêu rõ: Nhà nước tạo
điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà
nước và xã hội; công khai, minh bạch trong
việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của
công dân. Quy định bổ sung đã ràng buộc nghĩa
vụ cụ thể của các cơ quan nhà nước trong việc
bảo đảm quyền tham gia quản lý nhà nước và
xã hội của nhân dân, qua đó bảo đảm quyền này
sẽ được thực thi trong thực tế chứ không phải là
một quyền hình thức, “khẩu hiệu” như trước
đây.
– Bình đẳng giới (Điều 26): Bằng quy định
nghiêm cấm sự phân biệt đối xử về giới thay
cho quy định nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt
đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ
như nêu ở Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 đã
thay đổi quan niệm và cách tiếp cận cũ về bình
đẳng giới (nhấn mạnh sự phân biệt đối xử với
riêng một giới là phụ nữ) sang quan điểm mới,
đó là bình đẳng với cả giới nam và giới nữ. Đây
là cách tiếp cận phù hợp với thực tế và với nhận
thức chung của cộng đồng quốc tế. Nó tạo điều
kiện để thúc đẩy bình đẳng giới ở nước ta lên
một bước mới, có tính cân bằng, thực chất và
hiệu quả hơn.
– Bỏ phiếu trong trưng cầu ý dân (Điều 29):
Quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng
cầu ý dân (quy định chung với một số quyền
khác trong Điều 55 Hiến pháp 1992) được tách
thành một điều riêng (Điều 29) Hiến pháp 2013.
Mặc dù nội dung của quyền này không thay đổi
lớn (Hiến pháp 2013 chỉ bổ sung quy định về
độ tuổi (từ 18 trở lên) của chủ thể quyền), song
việc tách thành một quyền riêng khiến cho vị
trí, tầm quan trọng của nó được tăng thêm.
V.C. Giao, N. S. Đông / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 3 (2014) 41-49
44
– Tố tụng công bằng (Điều 31): Nội dung về
quyền được tố tụng công bằng trong Điều 72
Hiến pháp 1992 được mở rộng đáng kể so trong
Điều 31 Hiến pháp 2013. Nếu như trong Hiến
pháp 1992, quyền này chỉ bao gồm các yếu tố:
suy đoán vô tội; bồi thường thiệt hại vật chất và
phục hồi danh dự cho người bị oan sai trong tố
tụng; xử lý nghiêm minh người thi hành tố tụng
gây oan sai thì trong Hiến pháp 2013, ngoài
những yếu tố đã nêu, còn bao gồm những yếu
tố khác như: xét xử kịp thời, công bằng, công
khai; không bị kết án hai lần cho cùng một tội
phạm; quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào
chữa.
Không chỉ vậy, nội hàm của một số yếu tố
cũng được sửa đổi để quy định rõ ràng hơn. Cụ
thể, quy định về nguyên tắc suy đoán vô tội
trong Hiến pháp 1992 (Không ai bị coi là có tội
và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết
tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật) được
diễn đạt lại thành (Người bị buộc tội được coi là
không có tội cho đến khi được chứng minh theo
trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật). Với quy định mới,
các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ phải cân bằng
và khách quan trong việc tìm chứng cứ. Họ sẽ
phải tìm kiếm và coi trọng cả chứng cứ buộc tội
và gỡ tội, thay vào việc chỉ tập trung tìm chứng
cứ để chứng minh bị can là có tội, nếu không
tìm được chứng cứ như vậy thì bị can được coi
là vô tội. Hướng tiếp cận theo kiểu tập trung tìm
chứng cứ buộc tội là nguyên nhân dẫn đến
nhiều oan sai trong tố tụng hình sự, vì khi tiếp
cận theo hướng này, cơ quan tiến hành tố tụng
sẽ có xu hướng định kiến, bỏ qua, coi nhẹ
những chứng cứ gỡ tội cho bị can. Hoặc quy
định về việc bồi thường oan sai trong tố tụng
hình sự cũng được mở rộng và cụ thể hóa. Về
chủ thể của quyền đòi bồi thường, nếu như
trong Hiến pháp 1992 đề cập đến người bị bắt,
bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật thì
Hiến pháp 2013 đề cập đến người bị bắt, tạm
giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử,
thi hành án trái pháp luật. Về nội hàm của
quyền được bồi thường, nếu như Hiến pháp
1992 chỉ đề cập đến những thiệt hại về vật chất
thì Hiến pháp 2013 quy định cả thiệt hại về tinh
thần. Tương ứng, các hành vi bị coi là trái pháp
luật trong tố tụng hình sự theo Hiến pháp 1992
bao gồm bắt, giam giữ, truy tố, xét xử thì trong
Hiến pháp 2013 bao gồm bắt, giam, giữ, khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt
hại cho người khác.
Những yếu tố mở rộng nêu trên làm tăng
thêm đáng kể sự tương thích của pháp luật Việt
Nam với quy định về quyền được tố tụng công
bằng trong luật nhân quyền quốc tế. Nó phù
hợp với thực tế tố tụng hình sự của nước ta và
những yêu cầu, mục tiêu về bảo vệ quyền con
người trong chiến lược cải cách tư pháp.
– Sở hữu tư nhân (Điều 32): Chủ thể của
quyền này đã được mở rộng từ công dân trong
Hiến pháp 1992 sang mọi người trong Điều 32
Hiến pháp 2013. Sự mở rộng này phù hợp với
thực tế và đáp ứng yêu cầu của việc hội nhập
quốc tế, khi mà các thể nhân, pháp nhân nước
ngoài có mặt làm ăn, sinh sống ngày càng nhiều
ở nước ta. Những chủ thể này cũng phải được
bảo vệ quyền tư hữu tài sản và tư liệu sản xuất
– vì đây là tiền đề cơ bản nhất để họ có thể làm
ăn, sinh sống ở Việt Nam.
Bên cạnh sự mở rộng quan trọng về chủ thể,
Hiến pháp 2013 nêu rõ: Trường hợp thật cần
thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi
ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống
thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng
có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo
giá thị trường. Quy định bổ sung này một lần
nữa nhấn mạnh cam kết tôn trọng quyền sở hữu
tư nhân của nhà nước, đồng thời xác lập khuôn
khổ hiến định cho sự can thiệp của nhà nước
vào quyền này, qua đó ngăn ngừa những hành
V.C. Giao, N. S. Đông / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 3 (2014) 41-49
45
động tùy tiện xâm phạm quyền sở hữu tư nhân
của các cơ quan, quan chức nhà nước.
– Lao động, việc làm (Điều 35): Hiến pháp
2013 đã thay thế những quy định dài dòng,
mang tính hô hào, “khẩu hiệu” về lao động,
việc làm trong Điều 55,56 Hiến pháp 1992 bằng
những quy định hàm xúc, thực chất hơn, đặc
biệt là bám sát các điều khoản liên quan trong
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội,
văn hóa năm 1966. Cụ thể, theo Điều 35 Hiến
pháp 2013, quyền về lao động, việc làm bao
gồm: quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp,
việc làm và nơi làm việc; quyền được bảo đảm
các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được
hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi. Thêm vào đó,
Điều này cũng quy định nghiêm cấm phân biệt
đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công
dưới độ tuổi lao động tối thiểu [1], [2].
Ngoài những điểm mới mang tính chất trực
tiếp nêu trên, Hiến pháp 2013 còn chứa đựng
những quy định mới ở một số chương khác mà
có ý nghĩa quan trọng đến việc bảo vệ, thúc đẩy
quyền con người, quyền công dân, tiêu biểu là:
– Các quy định củng cố quyền làm chủ của
nhân dân, thể hiện qua Lời nói đầu (nêu rõ chủ
thể xây dựng, thi hành và bảo vệ hiến pháp là
nhân dân); Điều 2 (khẳng định nhân dân là chủ
nhân của đất nước, tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân); Điều 4 (xác định Đảng
Cộng sản nằm dưới sự giám sát của nhân dân
và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về
những quyết định của mình); Điều 6 (xác định
cách thức nhân dân thực hiện quyền lực nhà
nước là bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại
diện); Điều 70 (bỏ quy định Quốc hội là cơ
quan duy nhất có quyền lập hiến); Điều 120
(quy định việc trưng cầu ý dân về hiến pháp và
ràng buộc nghĩa vụ của Ủy ban dự thảo Hiến
pháp phải tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình
Quốc hội bản dự thảo). Cùng với việc viết hoa
từ “Nhân dân”, những quy định mới này cho
thấy sự thay đổi quan niệm về vị trí, vai trò của
bản hiến pháp như là một đạo luật gốc đơn
thuần do nhà nước xây dựng sang một bản khế
ước xã hội, trong đó người dân là chủ thể xác
lập, trao quyền và đề ra những cơ chế để kiểm
soát hoạt động của chính quyền do mình lập ra
[3]. Những quy định này chưa từng được đề cập
hoặc chưa được quy định rõ trong các hiến pháp
trước, vì vậy, chúng chuyển tải một thông điệp
mới, một động lực mới cho việc bảo đảm và
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thúc đẩy
dân chủ XHCN ở nước ta phát triển thêm một
bước mới về chất trong những năm tới.
– Các quy định về cơ chế bảo đảm các
quyền hiến định. Hiến pháp 2013 lần đầu tiên
nhắc đến cụm từ “cơ chế bảo vệ hiến pháp” và
xác định Nhân dân là một trong các chủ thể bảo
vệ hiến pháp (Điều 119). Đây là tiền đề để bảo
vệ nhân quyền ở cấp cao nhất, bởi xét đến cùng,
bảo hiến chính là bảo vệ các quyền hiến định.
Ngoài ra, một loạt điều khoản sửa đổi khác
trong Hiến pháp 2013 cũng có ý nghĩa tăng
cường cơ chế bảo vệ nhân quyền, trong đó tiêu
biểu là các Điều 94, 96 (ấn định nhiệm vụ mới
của Chính phủ là bảo vệ quyền con người,
quyền công dân); Điều 102 (ấn định nhiệm vụ
mới của TAND bảo vệ công lý, bảo vệ quyền
con người); Điều 107 (ấn định nhiệm vụ mới
của VKSND là bảo vệ quyền con người, quyền
công dân). Những quy định này gắn liền trách
nhiệm của các cơ quan hành pháp và tư pháp
trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền. Điều
này có ý nghĩa rất quan trọng vì trước đó ở Việt
Nam, trách nhiệm và bảo vệ, thúc đẩy nhân
quyền thường chỉ được gắn với cơ quan lập
pháp – Quốc Hội.
2. Về nguyên tắc hạn chế quyền
Giới hạn quyền (limitation of rights) là quy
định được ghi nhận trong luật nhân quyền quốc
tế, qua đó cho phép các quốc gia thành viên áp
đặt một số điều kiện với việc thực hiện/thụ
V.C. Giao, N. S. Đông / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 3 (2014) 41-49
46
hưởng một số quyền con người nhất định. Cụ
thể, Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền
(Điều 29 khoản 2), nêu rằng, khi thực hiện các
quyền và tự do của mình, mọi người chỉ chịu
những hạn chế do luật định, nhằm mục đích duy
nhất là đảm bảo sự công nhận và tôn trọng
thích đáng đối với các quyền và tự do của
người khác cũng như đáp ứng những yêu cầu
chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc
lợi chung trong một xã hội dân chủ.
Theo luật nhân quyền quốc tế, phần lớn các
quyền con người đều có thể bị giới hạn bằng
luật, trong những điều kiện nhất định, ngoại trừ
một số quyền không bao giờ có thể bị giới hạn
mà được gọi là các quyền tuyệt đối (absolute
rights), ví dụ như: quyền sống; quyền không bị
tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ
nhục; quyền không bị bắt giữ làm nô lệ hay nô
dịch; quyền không bị bỏ tù chỉ vì lý do không
hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng; quyền
không bị áp dụng hồi tố trong tố tụng hình sự;
quyền được công nhận là thể nhân trước pháp
luật; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn
giáo [4].
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, Hiến
pháp Việt Nam quy định về nguyên tắc hạn chế
quyền. Cụ thể, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp sửa
đổi 2013 khẳng định: “Quyền con người, quyền
công dân chỉ có thể bị giới hạn theo quy định
của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do
quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn
xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng
đồng”.
Quy định trên cho thấy rõ quyết tâm của
Việt Nam không chỉ trong việc thừa nhận, mà
còn bảo đảm thực hiện các quyền con người
trong thực tế. Nó cũng cho thấy việc hiến định
các quyền con người, quyền công dân trong
Hiến pháp 2013 đã bám sát các quy định của
luật nhân quyền quốc tế và tiếp thu những tiến
bộ gần đây trong hiến pháp của một số quốc
gia.
Đối với những quốc gia đang phát triển như
Việt Nam, việc hiến định nguyên tắc hạn chế
quyền có ý nghĩa rất quan trọng, bởi lẽ: (i) Nó
làm rõ tinh thần của luật nhâ

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Những điểm mới tiến bộ về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp 2013 và việc thực thi

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *