[block id=”bo-sung-1″]

Ở Việt Nam, vào tháng 12/1986 Đại hội toàn quốc lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam đã thông qua đường lối đổi mới và mở rộng nền kinh tế. Đất nước ta từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các ngành nghề sản xuất trong nước cũng đã có những bước phát triển tích cực nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Từ một nước phải nhập khẩu lương thực thực phẩm đã trở thành một nước có nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu đứng hàng đầu trên thế giới như cà phê, gạo, tiêu, điều
Để có được những thành quả như trên phải kể đến sự nỗ lực của Chính phủ trong việc cải cách và ban hành những chính sách phát triển môt cách phù hợp. Bên cạnh đó là những chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất và kinh doanh các mặt hàng nông sản như các đại lý thu mua, những doanh nghiệp chế biến, những doanh nghiệp xuất khẩu trong đó đặc biệt là những đại lý thu mua nông sản.
Các đại lý thu mua nông sản hay còn được gọi là các hộ thu mua hay các doanh nghiệp thu mua đóng vai trò quan trọng trong việc lưu thông các loại hàng hóa nông sản. Bên cạnh chức năng chính là tập trung những đầu mối cung lẻ nông sản để sau đó đóng vai trò là nguồn cung sĩ cho các doanh nghiệp chế biến thì họ còn góp phần vào việc hỗ trợ, cung ứng các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp. Qua đó tạo điều kiện cho những người nông dân thiếu vốn sản xuất có thể sản xuất một cách liên tục.

phan_tich_ve_tinh_hinh_san_xuat_kinh_doanh_cua_cac_dai_ly

doc54 trang | Chia sẻ: superlens | Ngày: 21/09/2015 | Lượt xem: 1069 | Lượt tải: 2download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Phân tích về tình hình sản xuất kinh doanh của các đại lý thu mua cà phê tại xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, tỉnh Đăk Lăk, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQ : Bình quân
BQGT : Bình quân giá trị
BVTV : Bảo vệ thực vật
CNTT : Công nghệ thông tin
CP : Cổ phần
DN : Doanh nghiệp
DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
DT : Doanh thu
LN : Lợi nhuận
KH&ĐT : Kế hoạch và đầu tư
KHCN : Khoa học công nghệ
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
NSLĐ : Năng suất lao động
THCS : Trung học cơ sở
SXKD : Sản xuất kinh doanh
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Các khâu trung gian trong hệ thống Marketing nông sản. .12
Bảng 3.1. Bảng cơ cấu sử dụng đất đai tại xã Phú Lộc năm 2011 20
Bảng 3.2 Tình hình chăn nuôi tại xã Phú Lộc năm 2011 21
Bảng 3.3 Cơ cấu lao động tại xã Phú Lộc năm 2011 22
Bảng 4.1 Các loại hình kinh doanh của đại lý trên địa bàn xã 28
Bảng 4.2 Giới tính và tuổi của chủ các đại lý 29
Bảng 4.3 Quy mô lao động của các đại lý 30
Bảng 4.4 Trình độ của lao động của đại lý 31
Bảng 4.5 Tài sản của các đại lý năm 2011 32
Bảng 4.6 Tình hình trang thiết bị công nghệ của đại lý 33
Bảng 4.7 Số lượng máy móc thiết bị của các đại lý thu mua có sản xuất cà phê 34
Bảng 4.8 lượng máy móc thiết bị của các đại lý thu mua và buôn bán vật tư 34
Bảng 4.9 Vốn chủ sở hữu bình quân của đại lý 35
Bảng 4.10 Kênh tiếp cận thông tin của đại lý 35
Bảng 4.11. Tình hình doanh thu bình quân của các đại lý trong xã 36
Bảng 4.12 Tình hình chi phí sản xuất bình quân của các đại lý tại xã 37
Bảng 4.13 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các đại lý trên địa bàn xã 38
Bảng 4.14 Chi phí của các đại lý vừa thu mua vừa sản xuất cà phê 39
Bảng 4.15 Hiệu quả sản xuất kinh doanh đại lý vừa thu mua vừa sản xuất cà phê 40
Bảng 4.16 Tình hình tồn kho của các đại lý thu mua kiêm sản xuất 40
Bảng 4.17 Chi phí phát sinh của các đại lý vừa thu mua vừa buôn bán vật tư 41
Bảng 4.18 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các đại lý vừa thu mua vừa buôn bán vật tư 42
MỤC LỤC
PHẦN I
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, vào tháng 12/1986 Đại hội toàn quốc lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam đã thông qua đường lối đổi mới và mở rộng nền kinh tế. Đất nước ta từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các ngành nghề sản xuất trong nước cũng đã có những bước phát triển tích cực nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Từ một nước phải nhập khẩu lương thực thực phẩm đã trở thành một nước có nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu đứng hàng đầu trên thế giới như cà phê, gạo, tiêu, điều
Để có được những thành quả như trên phải kể đến sự nỗ lực của Chính phủ trong việc cải cách và ban hành những chính sách phát triển môt cách phù hợp. Bên cạnh đó là những chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất và kinh doanh các mặt hàng nông sản như các đại lý thu mua, những doanh nghiệp chế biến, những doanh nghiệp xuất khẩu trong đó đặc biệt là những đại lý thu mua nông sản.
Các đại lý thu mua nông sản hay còn được gọi là các hộ thu mua hay các doanh nghiệp thu mua đóng vai trò quan trọng trong việc lưu thông các loại hàng hóa nông sản. Bên cạnh chức năng chính là tập trung những đầu mối cung lẻ nông sản để sau đó đóng vai trò là nguồn cung sĩ cho các doanh nghiệp chế biến thì họ còn góp phần vào việc hỗ trợ, cung ứng các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp. Qua đó tạo điều kiện cho những người nông dân thiếu vốn sản xuất có thể sản xuất một cách liên tục.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, nền kinh tế Đăk Lăk cũng đã có nhiều chuyển biến tích cực nhờ những thế mạnh của sản xuất nông nghiệp của tỉnh và cây cà phê chính là thế mạnh đó. Với nhu cầu sử dụng ngày càng lớn của cả thị trường trong và ngoài nước thì sản xuất cà phê đã và đang đem lại thu nhập ổn định cho người sản xuất liên quan đến cà phê mà trong đó các đại lý thu mua cà phê được xem là một mắc xích trung gian quan trọng đem cà phê từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Tuy nhiên trong điều kiện nền kinh tế đang ngày càng phát triển theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa thì các đại lý thu mua đang gặp phải nhiều khó khăn, thách thức trong việc thu mua và chế biến cà phê như: vốn kinh doanh, khoa học công nghệ, trình độ quản lý
Xã Phú Lộc thuộc huyện Krông Năng – tỉnh Đăk Lăk với điều kiện thỗ nhưỡng thích hợp trồng các loại cây công nghiệp dài ngày, và cây cà phê chính là loại cây chủ lực của xã. Vì vậy việc tạo điều kiện thuận lợi cho cà phê có thể lưu thông thuân lợi thông qua các đại lý thu mua là vấn đề luôn được chính quyền xã quan tâm.
Xuất phát từ những vấn đề đã nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài “Phân tích về tình hình sản xuất kinh doanh của các đại lý thu mua cà phê tại xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, tỉnh Đăk Lăk” làm đề tài nghiên cứu.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động sản xuất kinh doanh của các đại lý thu mua cà phê tại xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, tỉnh Đăk Lăk.
Phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các đại lý, từ thực tiễn đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, tỉnh Đăk Lăk.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: các đại lý thu mua cà phê tại xã Phú Lộc. Các đại lý ở đây thực chất là những hộ kinh doanh mua bán cà phê vừa và nhỏ.
– Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Nội dung
Những vấn đề về hiệu quả sản xuất kinh doanh của đại lý.
Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các đại lý.
Một số đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các đại lý thu mua.
Không gian: xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, tỉnh ĐăkLăk
Thời gian:
Thời gian số liệu pháp sinh trong 3 năm từ 2009 – 2011
Thời gian thực tập: từ ngày 20/03/2012 đến 15/06/2012.
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Lý luận về phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh
a. Khái niệm về hoạt động sản xuất kinh doanh
Sản xuất kinh doanh là việc sử dụng nguồn nhân lực để biến đổi những nguồn vật chất và tài chính thành của cải và dịch vụ. Những của cải và dịch vụ này phải phù hợp với nhu cầu của thị trường. Sự kết hợp các nhân tố sản xuất phải thực hiện trong những điều kiện có hiệu quả nhât.[1] Sau đó thực hiện một hay một số công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ hoặc cung ứng trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.[3]
b. Khái niệm về phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh.
Phân tích hoạt động kinh doanh là việc phân chia các hiện tượng, các quá trình và các kết quả kinh doanh thành các bộ phận cấu thành. Trên cơ sở đó, bằng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng phát triển của các hiện tượng nghiên cứu.[4]
c. Khái niệm về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế được mọi người quan tâm tới. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề này, chẳng hạn như:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là các chỉ tiêu được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữ kết quả với chi phí.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ hữu ích của sản phẩm sản xuất ra tức là gía trị sử dụng của nó, hoặc là doanh thu và nhất là lợi nhuận thu được sau quá trình kinh doanh.
Ngoài ra nó còn nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề này, nhưng khái niệm sau đây có thể là tổng quát nhất:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất kinh doanh là một yếu tố quan trọng để đánh giá sự tăng trưởng và thực hiện các mục tiêu về kinh tế doanh nghiệp trong từng thời.[1]
d. Vị trí và chức năng của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong lĩnh vực quản lý kinh tế, người ta sử dụng phân tích để nhận thức được các hiện tượng và kết quả kinh tế, để xác định quan hệ cấu thành, quan hệ nhân quả cũng như phát hiện nguồn gốc hình thành và tính quy luật phát triển của chúng, trên cơ sở đó mà cung cấp những căn cứ khoa học cho các quyết định đúng đắn cho tương lai.
Nằm trong hệ thống các môn khoa học quản lý kinh tế, phân tích hoạt động kinh doanh thực hiện một chức năng cơ bản đó là dự toán và điều chỉnh các hoạt động kinh tế. Bởi vì trước hết doanh nghiệp được quan niệm như một hệ thống và hệ thống này là đối tượng của quản lý. Hệ thống này bao gồm nhiều bộ phận cấu thành (phòng, ban, phân xưởng, tổ đội sản xuất) và mỗi một bộ phận cấu thành có chức năng, nhiệm vụ riêng để đảm bảo cho hệ thống hoạt động bình thường trên con đường đã đặt ra thì đòi hỏi từng bộ phận cấu thành, dù là nhỏ nhất trong hệ thống phải hoạt động bình thường theo đúng chức năng, nhiệm vụ của chúng. Như vậy chỉ cần ở một bộ phận nào đó của hệ thống hoạt động không bình thường sẽ làm cho hoạt động của cả hệ thống không bình thường. Trong trường hợp này, đòi hỏi người quản lý trên cơ sở phát hiện được tình hình cần phải đề ra các biện pháp loại trừ “điểm nóng” đó, điều chỉnh và khôi phục lại sự hoạt động của bộ phận đó, đảm bảo cho cả hệ thống trở lại hoạt động bình thường.
e. Đặc điểm của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh.
Khác với hoạt động tự túc tự cấp phi kinh doanh, động cơ và mục đích của hoạt động kinh doanh là sản xuất sản phẩm vật chất hay dịch vụ không phải để tự tiêu dùng mà để phục vụ cho nhu cầu của người khác nhằm thu lợi nhuận.
Hoạt động kinh doanh phải hạch toán được chi phí sản xuất, kết quả sản xuất và hạch toán được lãi (lỗ) trong kinh doanh.
Sản phẩm của hoạt động sản xuất kinh doanh có thể cân, đong, đo đếm được, đó là sản phẩm hàng hoá để trao đổi trên thị trường. Người chủ sản xuất phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm của mình sản xuất ra.
Hoạt động kinh doanh phải luôn luôn nắm được các thông tin về sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường như các thông tin về số lượng, chất lượng, giá cả sản phẩm, thông tin về xu hướng tiêu dùng của khách hàng, thông tin về kỹ thuật công nghệ để chế biến sản phẩm, về chính sách kinh tế tài chính, pháp luật Nhà nước có liên quan đến sản phẩm của doanh nghiệp.
Hoạt động kinh doanh luôn thúc đẩy mở rộng sản xuất và tiêu dùng xã hội, tạo điều kiện cho tích luỹ vốn phát triển sản xuất, phát triển kinh tế xã hội, phát triển khoa học kỹ thuật, mở rộng quan hệ giao lưu hàng hoá, tạo ra sự phân công lao động xã hội và cân bằng cơ cấu sản xuất trong nền kinh tế.
f. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh
Các nhân tố chủ quan.
Con người là nhân tố quyết định cho mọi hoạt động trong doanh nghiệp. Trong thời đại ngày nay, hàm lượng chất xám sản phẩm ngày càng cao thì trình độ chuyên môn của người lao động có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp, nhất là các cán bộ quản lý. Họ là những lao động gián tiếp tạo ra sản phẩm nhưng lại rất quan trọng bởi họ là những người điều hành và định hướng cho doanh nghiệp, quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Trên thực tế, mỗi một doanh nghiệp có một cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý khác nhau, trình độ chuyên môn của công nhân cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Công nhân có tay nghề cao sẽ làm ra sản phẩm đạt chất lượng cao, tiết kiệm thưòi gian và nguyên vật liệu, làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, trong nhân tố con người trình độ chuyên môn có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả sản xuất kinh doanh. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có kế hoạch tỉ mỉ từ khâu tuyển dụng tới việc đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trìng độ chuyên môn cho người lao động, nhất là đội ngũ các cán bộ quản lý.
Nhân tố vốn
Không một doanh nghiệp nào có thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh mà không có vốn. Vốn có ý nghĩa vô cùng quan trọng, quyết định trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn trong doanh nghiệp được hình thành từ 3 nguồn chính: Vốn tự có, vốn ngân sách nhà nước cấp và vốn vay: được phân bổ dưới hai hình thức là vốn cố định và vốn lưu động. Tùy đặc điểm của từng doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước thì vốn ngân sách nhà nước cấp là chủ yếu, doanh nghiệp tư nhân vốn chủ sở hửu và vốn vay là chủ yếu.
Nhân tố về khả năng áp dụng kỹ thuật
Kỹ thuật và công nghệ là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào áp dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, doanh nghiệp đó sẽ có lợi thế cạnh tranh. Ngày nay vai trò của kỹ thuật và công nghệ được các doanh nghiệp đánh giá cao. Để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư vào lĩnh vực này, nhất là đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.
Các nhân tố khách quan
Đó là những nhân tố tác động từ bên ngoài, có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chúng ta có thể khái quát thành 2 nhóm:
Môi trường vĩ mô: Bao gồm các yếu tố về điều kiện tự nhiên, về dân số và lao động, xu hướng phát triển kinh tế, tiến bộ khoa học kỹ thuật, các chính sách của nhà nước và các yếu tố khác có liên quan.
* Yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế có vai trò quan trọng quyết định đối với việc hình thành và hoàn thiện môi trường kinh doanh, đồng thời các yếu tố này cũng góp phần quyết định năng suất sản xuất, khoa học công nghệ, khả năng thích ứng của doanh nghiệp. Nó có thể trở thành cơ hội hay nguy cơ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố kinh tế bao gồm: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, lãi suất ngân hàng, các chính sách kinh tế của nhà nướcChúng không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả SXKD của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng tới môi trường vi mô của doanh nghiệp. Trong thời đại nền kinh tế mở cửa, tư do cạnh tranh như hiện nay đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có vị thế nhất định đảm bảo chống lại những tác động tiêu cực từ môi trường, mặt khác các yếu tố kinh tế tương đối rộng nên các doanh nghiệp cần chọn lọc để nhận biết các tác động cụ thể ảnh hưởng trực tiếp nhất đến doanh nghiệp từ đó có các giải pháp hạn chế những tác động xấu.
* Yếu tố chính trị, pháp luật
Nhà nước có thể chế chính trị, hệ thống luật pháp rõ ràng, đúng đắn và ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp trong nước hoạt động SXKD và thúc đẩy các nhà đầu tư nước ngoài. Hiện nay, các doanh nghiệp hoạt động SXKD theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nhà nước đóng vai trò điều hành quản lý nền kinh tế thông qua các công cụ vĩ mô như: pháp luật, chính sách thuế, tài chínhcơ chế chính sách của nhà nước có vai trò quyết định trong việc thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế nói chung và ngành lâm nghiệp nói riêng.
* Yếu tố công nghệ
Khoa học- công nghệ là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đối với các nước đang phát triển giá cả và chất lượng có ý nghĩa ngang nhau trong cạnh tranh. Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay công cụ cạnh tranh đã chuyển từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh về chất lượng, cạnh tranh giữa các sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng KHCN cao.
Việc áp dụng những thành tựu KHCN đã đem lại những kết quả đáng kể trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều mẫu mã đẹp, tiết kiệm nguyên vật liệu, hạ giá thành sản phẩm, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái.
* Yếu tố môi trường tự nhiên
Yếu tố tự nhiên bao gồm nguồn lực tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, vị trí địa lý của tổ chức kinh doanhlà một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp lâm nghiệp.
* Yếu tố xã hội
Các doanh nghiệp cần phân tích các yếu tố xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra, từ đó giúp doanh nghiệp có thể xây dựng các chiến lược kinh doanh phù hợp với đặc điểm văn hóa xã hội của từng khu vực. Các yếu tố xã hội như dân số, văn hóa, thu nhập…
Môi trường vi mô: Bao gồm các yếu tố gắn liền với doanh nghiệp như thị trường đầu vào và thị trường đầu ra.
* Khách hàng
Khách hàng là những người quyết định quy mô và cơ cấu nhu cầu trên thị trường của doanh nghiệp, là yếu tố quan trọng hàng đầu khi xây dựng chiến lược kinh doanh, là những người quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Do vậy, tìm hiểu kỹ lưỡng và đáp ứng đủ nhu cầu cùng sở thích thị hiếu của khách hàng mục tiêu sẽ là điều kiện sống còn cho sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp.
* Đối thủ cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường thì sự cạnh tranh là một điều tất yếu, số lượng các đối thủ cạnh tranh trong ngành càng nhiều thì mức độ cạnh tranh càng gay gắt. Các đối thủ cạnh tranh và hoạt động của họ luôn được xem là một trong yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến việc ra quyết định kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Tuy nhiên trên phương diện xã hội thì cạnh tranh sẽ có lợi cho người tiêu dùng và thúc đẩy xã hội phát triển. Việc phân tích các đối thủ cạnh tranh trong ngành nhằm nắm được các điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ để từ đó xác định chiến lược nhằm tạo được thế vững mạnh trên thị trường.
Đối với nhân tố khách quan, không một doanh nghiệp nào có thể loại bỏ hay thay đổỉ được, nhưng doanh nghiệp có thể tận dụng các nhân tố có ảnh hưởng tích cực hoặc không hạn chế các nhân tố có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vấn đề này là tuỳ thuộc vào khả năng lãnh đạo của các nhà quản lý ở từng doanh nghiệp.
g. Sự cần thiết của việc phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh
Sự cần thiết khách quan phải phân tích hoạt động kinh doanh được thể hiện trong quá trình phát triển lịch sử của nó gắn liền với sự phát triển của sản xuất hàng hoá. Thật vậy, sự biểu hiện bước đầu của công tác hạch toán và phân tích hoạt động kinh doanh đó là việc người Ai Cập, Babilon trong nền văn minh cổ đại xưa đã dùng đất nung và bia đá để ghi khắc những tài liệu, ghi chép về trao đổi hàng hoá, kê khai trọng lượng hàng hoá so sánh các thu chi cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá, những yêu cầu buổi đầu của công tác quản lý, phân tích hoạt động kinh doanh được kết hợp công tác kế toán, thống kê.
Chủ nghĩa tư bản ra đời, sản xuất hàng hoá phát triển nhanh, quy mô lớn phân tích hoạt động kinh doanh có những yêu cầu lớn hơn nhằm phục vụ đắc lực cho công tác quản lý.
Khi chủ nghĩa đế quốc ra đời, sự tích luỹ tư bản dẫn đến sự tích tụ sản xuất,
các công ty cổ phần và các công ty xuyên quốc gia ra đời, sản xuất phát triển cực kỳ nhanh chóng về cả quy mô lẫn hiệu quả. Để chiến thắng trong cạnh tranh và quản lý tốt hoạt động sản xuất của công ty đề ra phương án kinh doanh có hiệu quả các nhà tư bản phải thường xuyên phân tích hoạt động trên cơ sở nhiều luồng, nhiều loại thông tin. Với yêu cầu này, công tác hạch toán không đáp ứng được, đòi hỏi phải có một môn khoa học phân tích kinh tế độc lập với nội dung, phương pháp nghiên cứu phong phú. Phân tích hoạt động kinh doanh tách rời khỏi hạch toán và thống kê dựa trên cơ sở hai môn khoa học đó.
Ngày này, với những thành tưu to lớn về sự phát triển kinh tê, văn hóa, trình độ kỹ thuật càng cao thì việc phân tích hoạt động kinh doanh càng quan trọng trong quá trình quản lý doanh nghiệp bởi mục đích cuối cùng là tìm ra phương án kinh doanh có hiệu quả cao nhất về mặt kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất
Ở nước ta hiện nay, phân tích hoạt động kinh doanh đối với các đơn vị kinh tế là rất quan trọng. Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để đề ra định hướng và chương trình định hướng. Trong nền kinh tế thị trường, để chiến thắng trong cạnh tranh đòi hỏi các đơn vị kinh tế phải thường xuyên áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải tiến phương thức hoạt động, cải tiến phương thức quản lý sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao năng xuất chất lượng và hiệu quả. Phân tích hoạt động kinh doanh là công tác cần thiết và quan trọng để đưa ra các quyết định về sự thay đổi đó.
Tóm lại: Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là hết sức cần thiết đối với mọi nền sản xuất hàng hoá. Trong nền kinh tế nước ta hiện nay sự cần thiết xuất phát từ yêu cầu khách quan của các quy luật kinh tế, từ việc đảm bảo chức năng quản lý kinh tế của nhà nước và yêu cầu hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp
2.1.2 Các lý luận liên quan đến hộ kinh doanh cá thể
a. Khái niệm hộ kinh doanh cá thể
Theo Nghị định số 109/2004/NĐ-CP định nghĩa: Hộ kinh doanh cá  thể do m

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Phân tích về tình hình sản xuất kinh doanh của các đại lý thu mua cà phê tại xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, tỉnh Đăk Lăk

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *