[block id=”bo-sung-1″]

Bài viết tập trung làm rõ các khái niệm trẻ em, quyền trẻ emvà lao động trẻ em, đồng
thời phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về lao động trẻ em và những vướng mắc
trong quá trình thực thi các quy định đó trong thực tiễn. Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra một số
nguyên nhân và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống
lạm dụng lao động trẻ em.

phong chong lam dung lao dong tre em gop phan thuc day viec thuc hien quyen tre em
pdf7 trang | Chia sẻ: superlens | Ngày: 19/09/2015 | Lượt xem: 2314 | Lượt tải: 6download

Bạn đang xem nội dung tài liệu Phòng, chống lạm dụng lao động trẻ em góp phần thúc đẩy việc thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 4 (2014) 58-64
58
Phòng, chống lạm dụng lao động trẻ em góp phần
thúc đẩy việc thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam
Phan Thị Lan Phương*
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt nam
Nhận ngày 20 tháng 9 năm 2014
Chỉnh sửa ngày 28 tháng 11 năm 2014; Chấp nhận đăng ngày 18 tháng 12 năm 2014
Tóm tắt: Bài viết tập trung làm rõ các khái niệm trẻ em, quyền trẻ em và lao động trẻ em, đồng
thời phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về lao động trẻ em và những vướng mắc
trong quá trình thực thi các quy định đó trong thực tiễn. Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra một số
nguyên nhân và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống
lạm dụng lao động trẻ em
Từ khóa: Quyền trẻ em; lao động trẻ em; lạm dụng lao động trẻ em.
Lao động là hoạt động không thể thiếu để
con người duy trì sự sống và phát triển.∗Lao
động còn được hiểu là hoạt động tạo ra của cải
vật chất hay tinh thần1; lao động là hoạt động có
ý chí, có mục đích của con người tác động vào
thế giới xung quanh để tạo ra những giá trị vật
chất và tinh thần nhằm thoả mãn nhu cầu ngày
càng đa dạng của mình.
Lao động trẻ em là vấn đề được nhà nước
đặc biệt quan tâm, Việt Nam là nước đầu tiên ở
châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê
chuẩn công ước quốc tế về quyền trẻ em; trẻ em
là những công dân đặc biệt của xã hội cần được
nhà nước và xã hội dành sự ưu tiên và tạo môi
trường lành mạnh để phát triển toàn diện về thể
chất và trí tuệ. Nhưng trên thực tế tình trạng
lạm dụng lao động diễn ra phổ biến.
_______

ĐT: 84-4-37549853
Email: phanphuong503@yahoo.com.vn
1
Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Đà Nẵng, năm 2002.
1. Khái niệm trẻ em, quyền trẻ em và lao
động trẻ em
Trẻ em là một thuật ngữ dùng để chỉ một
nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định
trong giai đoạn đầu phát triển của con người, về
vị thế xã hội, trẻ em là một nhóm thành viên xã
hội mà ngày càng có khả năng hội nhập xã hội
với tư cách là những chủ thể tích cực, có ý thức,
nhưng cũng cần được gia đình và xã hội quan
tâm bảo vệ, chăm sóc.
Khái niệm trẻ em được hiểu theo nhiều
nghĩa khác nhau, nhưng dưới góc độ pháp lý trẻ
em được xác định theo độ tuổi và độ tuổi của
trẻ em tùy thuộc vào sự quy định của mỗi quốc
gia và từng lĩnh vực mà trẻ em tham gia, nhưng
về cơ bản trẻ em theo quy định của Công ước
quốc về quyền trẻ em, trẻ em là những người
chưa đủ 18 tuổi2; Theo quy định của pháp luật
_______
2
Xem Điều 1 công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên
hợp quốc năm 1989.
P.T.L. Phương / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 4 (2014) 58-64
59
Việt Nam trẻ em là những người chưa đủ 16
tuổi3. Như vậy, khái niệm quyền trẻ em được
hiểu là những đặc quyền tự nhiên mà trẻ em
được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực
hiện nhằm đảm bảo sự sống còn, tham gia và
phát triển toàn diện.
Thể chế hóa nội dung của quyền trẻ em
trong các văn bản quy phạm pháp luật là một
trong những biện pháp nhằm đảm bảo cho trẻ
em không chỉ là người trực tiếp tiếp thu thụ
động tình thương, lòng tốt của bất cứ ai mà còn
có thể trở thành chủ thể của quyền. Theo quy
định của Công ước quốc tế về quyền trẻ em thì
quyền trẻ em gồm có các nhóm quyền cơ bản:
quyền sống còn, quyền được phát triển, quyền
được bảo vệ và quyền được tham gia. Trong các
nhóm quyền đó quyền được phát triển là các
điều kiện để trẻ em có thể phát triển đầy đủ nhất
về tinh thần, đạo đức, được học tập, vui chơi;
Quyền được bảo vệ bao gồm tất cả các quy định
trẻ em phải được chống lại tất cả các hình thức
bóc lột lao động.
Lao động là hiện tượng xã hội nảy sinh,
biến đổi và phát triển trong hoàn cảnh lịch sử,
kinh tế, xã hội cụ thể. Qua nghiên cứu, chúng
tôi định nghĩa khái niệm lao động như sau:
Lao động là hoạt động có ý chí, có mục
đích của con người tác động vào thế giới xung
quanh để tạo ra những giá trị vật chất và tinh
thần nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng đa dạng
của mình.
Đặc điểm cơ bản, quan trọng nhất của lao
động là tính tích cực và tính mục đích của hoạt
động chế tạo, sử dụng các công cụ, phương tiện
để thực hiện các chức năng nhất định. Lao động
có chức năng cơ bản là tạo ra sản phẩm đáp ứng
nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của sự
phát triển cá nhân và xã hội. Quá trình lao động
là con đường, là cơ chế và là nhân tố quyết định
sự phát triển nhân cách của chủ thể lao động.
_______
3
Xem Điều 1 Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em
năm 2004.
Từ khái niệm trẻ em và khái niệm lao động
như trên, chúng ta có thể xây dựng khái niệm
lao động trẻ em là lao động do trẻ em thực hiện.
Còn trẻ em là người như thế nào thì được xác
định theo độ tuổi, mà độ tuổi này lại phụ thuộc vào
quy định pháp luật của từng quốc gia khác nhau.
Hiện nay khái niệm lao động trẻ em theo
cách hiểu của Công ước Quốc tế về quyền trẻ
em năm 1989 “Lao động trẻ em là người lao
động chưa đủ 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp
áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi trưởng
thành sớm hơn”.
Bộ luật lao động Việt Nam không đưa ra
định nghĩa về lao động trẻ em mà chỉ định
nghĩa về lao động chưa thành niên theo quy
định tại Điều 6 Bộ luật lao động “Người lao
động là người ít nhất đủ 15 tuổi có khả năng
giao kết hợp đồng lao động”, Điều 119 quy
định “lao động chưa thành niên là lao động
dưới 18 tuổi” [1]. Trong luật bảo vệ chăm sóc
và giáo dục trẻ em quy định độ tuổi là 16 tuổi
trở xuống. Như vậy, pháp luật Việt Nam đã bao
hàm lao động trẻ em trong khái niệm người lao
động chưa thành niên nhằm bảo vệ chung với
những người chưa có năng lực pháp luật và
năng lực hành vi đầy đủ.
Trẻ em là đối tượng được phép tham gia lao
động nhưng là lao động đặc biệt vì phải tuân
theo những mục đích và tính chất lao động
riêng biệt để đảm bảo quyền học tập, phát triển,
quyền bảo vệ của trẻ em.
Theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc
tế (ILO) thì khái niệm Lao động trẻ em đòi hỏi
ngoài góc độ độ tuổi, còn phải tiếp cận từ góc
độ tính chất công việc mà chủ thể phải làm:
Về độ tuổi ILO cho rằng trẻ em là người
dưới 18 tuổi; Về tính chất công việc, lao động
trẻ em bao gồm những công việc có ảnh hưởng
tiêu cực tới sự phát triển toàn diện của trẻ em.
Với cách lập luận như trên, ILO cho rằng
“Lao động trẻ em là thuật ngữ chỉ tình trạng trẻ
em (những người dưới 18 tuổi) phải trực tiếp
hoặc gián tiếp tham gia làm những công việc
P.T.L. Phương/ Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 4 (2014) 58-64
60
nặng nhọc, độc hại hay nguy hiểm, ảnh hưởng
xấu đến sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh
thần, đạo đức và xã hội của trẻ; hoặc phải làm
việc quá nhiều hay ở độ tuổi quá nhỏ, khiến các
em không có thời gian cần thiết để học tập và
vui chơi”.
Không phải trẻ em nào cứ tham gia làm
việc đều được coi là lao động trẻ em vì hiện
nay chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa “lao động
trẻ em” và “trẻ em tham gia làm việc”. Trẻ em
tham gia làm việc là những trẻ em làm các công
việc không làm hại tới việc phát triển thể chất,
học hành và vui chơi; có thể góp phần vào sự
phát triển lành mạnh của trẻ em. Lao động trẻ
em là trường hợp trẻ em làm những công việc
quá sức, quá nặng nhọc đối với độ tuổi của trẻ;
Trẻ em làm việc dưới sự giám sát của người lớn
và bị lạm dụng; phải làm việc nhiều giờ, bị hạn
chế hoặc không có thời gian đi học, vui chơi
nghỉ ngơi; Môi trường làm việc độc hại ảnh
hưởng đến sức khỏe và cuộc sống và sự phát
triển của các em; Trẻ em bị bắt buộc làm việc,
dễ bị lạm dụng về tinh thần thể chất và tình dục.
Trong bài viết này chúng tôi tiếp cận “lao
động trẻ em” với những trường hợp trẻ em dưới
15 tuổi và làm việc quá 4 giờ một ngày hoặc
đảm nhiệm các công việc nguy hiểm độc hại,
công việc cấm trẻ em tham gia, từ đó góp phần
làm giảm thiểu tình trạng lạm dụng lao động
trẻ em góp phần bảo đảm thực hiện các
quyền trẻ em.
2. Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp
luật về lao động trẻ em
2.1. Thực trạng pháp luật về lao động trẻ em ở
Việt Nam hiện nay
Các văn bản pháp luật Việt Nam đã quy
định tương đối đầy đủ cơ sở pháp lý để tạo mọi
điều kiện bảo vệ, ngăn chặn tình trạng lao động
trẻ em, nhưng tình trạng trẻ em bị bóc lột sức
lao động và không có một môi trường an toàn,
lành mạnh để phát triển cả về thể chất lẫn tinh
thần vẫn diễn ra.
Bộ luật lao động năm 2012 tại chương XI –
Lao động chưa thành niên quy định về việc sử
dụng lao động trẻ em, trong đó nghiêm cấm sử
dụng lao động dưới 15 tuổi; người sử dụng lao
động chỉ được sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến
đủ 15 và làm các công việc nhẹ theo danh mục
quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã
hội bao gồm các công việc: diễn viên, múa, hát,
xiếc, sân khấu (kịch, tuồng, chèo, cải lương,
múa rối v.v), điện ảnh; các nghề truyền thống
như chấm men gốm, cưa vỏ trai, vẽ tranh sơn
mài; các nghề thủ công mỹ nghệ: thêu ren, mộc
mỹ nghệ; vận động viên năng khiếu: thể dục
dụng cụ, bơi lội, điền kinh (trừ tạ xích), bóng
bàn, cầu lông, bóng rổ, bóng ném, bi a, bóng
đá, các môn võ, đá cầu, cầu mây, cờ vua, cờ
tướng. Luật này còn quy định khi sử dụng
người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi thì người
sử dụng lao động phải ký kết hợp đồng lao
động bằng văn bản với người đại diện theo
pháp luật và phải được sự đồng ý của người từ
đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi; phải bố trí giờ làm
việc không ảnh hưởng đến giờ học tại trường
học của trẻ em; phải bảo đảm điều kiện làm
việc, an toàn lao động, vệ sinh lao động phù
hợp với lứa tuổi. Không được sử dụng lao động
là người dưới 13 tuổi làm việc trừ một số công
việc cụ thể do Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội quy định.
Bộ luật Lao động năm 2012 cũng quy định
tại Điều 165 các công việc và nơi làm việc cấm
sử dụng lao động là người chưa thành niên
(dưới 18 tuổi). Theo đó, những công việc bị
cấm là: mang, vác, nâng các vật nặng vượt quá
thể trạng của người chưa thành niên; sản xuất,
sử dụng hoặc vận chuyển hóa chất, khí gas, chất
nổ; bảo trì, bảo dưỡng thiết bị, máy móc; phá
dỡ các công trình xây dựng; nấu, thổi, đúc, cán,
P.T.L. Phương / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 4 (2014) 58-64
61
dập, hàn kim loại; lặn biển, đánh bắt cá xa bờ;
công việc khác gây tổn hại cho sức khoẻ, an
toàn hoặc đạo đức của người chưa thành niên.
Luật này còn quy định những nơi làm việc bị
cấm bao gồm: dưới nước, dưới lòng đất, trong
hang động, trong đường hầm; công trường xây
dựng; cơ sở giết mổ gia súc; sòng bạc, quán bar,
vũ trường, phòng hát karaoke, khách sạn, nhà
nghỉ, phòng tắm hơi, phòng xoa bóp; nơi làm
việc khác gây tổn hại đến sức khoẻ, sự an toàn
và đạo đức của người chưa thành niên… [1].
Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về lao
động trẻ em dưới dạng tội phạm vi phạm quy
định về sử dụng lao động trẻ em: Tội vi phạm
quy định về sử dụng lao động trẻ em xâm hại
đến an toàn đối với sự phát triển bình thường về
thể chất, tinh thần của trẻ em. Việc sử dụng trẻ
em vào những công việc nặng nhọc, nguy hiểm
hoặc tiếp xúc với các chất độc hại sẽ làm ảnh
hưởng không nhỏ đến sự phát triển bình thường
về thể chất, tinh thần của trẻ em (Điều 228) [2].
Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em:
quy định tại điều 6 khoản 7 nghiêm cấm việc
lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng lao động trẻ
em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc
tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc
khác trái với quy định của pháp luật về lao động
(Điều 6 khoản 7) [3].
Bên cạnh đó, Điều 2 Luật phòng chống bạo
lực gia đình quy định về Các hành vi bạo lực
gia đình trong đó có hành vi cưỡng ép thành
viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài
chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập
của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng
phụ thuộc về tài chính.
Ngoài ra còn có một số các văn bản khác
quy định về lao động trẻ em, bao gồm Nghị
định số 91/2011/NĐ – CP quy định về xử phạt
vi phạm hành chính về bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em quy định về việc xử phạt hành
vi lạm dụng sức lao động trẻ em, sử dụng trẻ
em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc
tiếp xức với chất độc hại, làm những công việc
trái với quy định pháp luật [4]; Quyết định số
19/2004/QĐ – TTg về việc phê duyệt chương
trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em
lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em
phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc
hại, nguy hiểm giai đoạn 2004- 2010 với mục
tiêu nâng cao nhận thức và hành động của toàn
xã hội trong việc bảo vệ trẻ em làm ngăn ngừa
và giảm dần số trẻ em lang thang kiếm sống và
trẻ em lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc
hại, nguy hiểm tạo điều kiện để trẻ em được bảo
vệ, chăm sóc và phát triển toàn diện [5]; Quyết
định số 267/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình
Quốc gia Bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015
nhằm tạo dựng môi trường sống lành mạnh, tất
cả trẻ em đều được bảo vệ giảm thiểu và loại bỏ
các nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em và giảm
thiểu tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn [6]; Thông Tư 10/2013/TT-
BLĐTBXH quy định danh mục các công việc
và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là người
chưa thành niên [7]; Thông tư số 11/2013/TT-
BLĐTBXH quy định danh mục công việc nhẹ
được sử dụng người dưới 15 tuổi làm việc [8].
2.2. Tình hình lạm dụng lao động trẻ em ở Việt
Nam hiện nay
Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 1,75 triệu
trẻ em từ 5 đến 15 tuổi là lao động trẻ em, trong
đó một phần ba trẻ em có thời gian làm việc
trên 7 giờ một ngày hoặc trên 42 giờ một tuần,
số thời gian làm việc kéo dài làm ảnh hưởng
đến việc học tập của các em, nhiều trẻ em
không được đi học4. Số đông lao động trẻ em
làm công việc giúp việc gia đình do tính chất
công việc là thời gian làm việc kéo dài và
thường xuyên nên không thể đến trường học5;
_______
4
Số liệu điều tra quốc gia về lao động trẻ em của Bộ lao
động thương binh xã hội năm 2012, công bố ngày
14/3/2014.
5
7,1% llao động làm nghề giúp việc gia đình dưới 18 tuổi.
P.T.L. Phương/ Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 4 (2014) 58-64
62
bộ phận trẻ em sống ở nông thôn, làm việc
trong ngành nông nghiệp và phụ giúp gia đình
không được trả lương. Trong số đó có khoảng
30.000 trẻ em còn tham gia lao động trong
những công việc nặng nhọc, độc hại như làm
việc trong điều kiện lao động ngoài trời, đi lại
nhiều dễ bị tai nạn, môi trường làm việc có hóa
chất gây hại, làm việc trong hầm mỏ nên lao
động trẻ em gặp những tổn thương làm ảnh
hưởng đến sự phát triển thể chất6.
Độ tuổi tham gia lao động của trẻ em sớm
thường bắt đầu từ 12 tuổi trở lên vì vậy việc
tham gia lao động ảnh hưởng đến tình hình học
tập có khoảng 55% trẻ em không đi học, tham
gia lao động sớm cũng ảnh hưởng đến sự phát
triển thể chất của trẻ em7; lao động trẻ em tham
gia vào nhiều lĩnh vực, địa điểm lao động đa
dạng, trẻ em tham gia vào khoảng 120 lĩnh vực
lao động những trẻ em bị bóc lột sức lao động
chủ yếu làm việc trong các cơ sở sản xuất
không phép, trái pháp luật dưới hình thức lao
động giúp đỡ gia đình trong vai trò là con cháu,
họ hàng; hoặc làm việc tại các bãi vàng, khai
thác than, làm việc tại các cơ sở may, lao động
trẻ em còn tham gia làm việc trong dịch vụ nhà
hàng. Lao động trẻ em tham gia vào các quan
hệ lao động thường không được ký kết hợp
đồng lao động bằng văn bản. Người sử dụng lao
động lợi dụng những điểm này để bóc lột sức
lao động của trẻ em, đồng thời khi xảy ra tranh
chấp cũng không có cơ sở pháp lý để xử lý
người vi phạm và bảo vệ quyền của trẻ em. Hợp
đồng miệng là hình thức phổ biến trong các
quan hệ lao động trong thực tế đối với trẻ em,
cho nên không có ràng buộc về mặt pháp lý
giữa người sử dụng lao động với lao động trẻ
em vì vậy mọi vi phạm pháp luật về sử dụng lao
động trẻ em khó phát hiện, không có cơ sở
_______
6
Kết quả điều tra của ILO về lao động trẻ em công bố
tháng 3 năm 2014.
7
Việc lao động sớm khiến trẻ em dễ bị tổn thương, gặp
nhiều rủi do về thể chất, thiếu tự tin, khó hòa nhập xã hội.
chứng minh trẻ em bị bóc lột sức lao động8.
Điều này trái với quy định của Công ước quốc
tế về quyền trẻ em, xâm phạm đến quyền phát
triển và quyền bảo vệ của trẻ em. Đồng thời trái
với quy định tại điều 12 Luật Bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em năm 2004: Trẻ em có quyền
được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể
chất, trí tuệ và đạo đức; vi phạm nghiêm trọng
việc: lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng lao
động trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy
hiểm hoặc tiếp xúc với công việc có tính chất
độc hại, làm những công việc trái với quy định
khác của pháp luật về lao động.
3. Một số nguyên nhân và giải pháp cơ bản
nhằm phòng, chống lạm dụng lao động trẻ em
3.1. Một số nguyên nhân của sự lạm dụng lao
động trẻ em
Sự lạm dụng lao động trẻ em xuất phát từ
nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó phải kể
đến một số nguyên nhân cơ bản dưới đây:
Một là, độ tuổi trẻ em trong luật bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em chưa thống nhất
với quy định về của lao động chưa thành niên
trong Bộ luật lao động và độ tuổi trẻ em theo
quy định của tổ chức ILO vì vậy các cơ quan
chức năng gặp nhiều khó khăn trong việc theo
dõi, kiểm soát, thống kê và đánh giá về lao
động trẻ em.
Hai là, hệ thống pháp luật hiện hành chưa
quy định cụ thể về quyền hạn, trách nhiệm của
các chủ thể quản lý trong việc phòng ngừa, xóa
bỏ lao động trẻ em; còn thiếu những quy định
cụ thể về cơ chế phát hiện, tố giác, xử lý vi
phạm lao động trẻ em.
Ba là, việc xử lý những trường hợp lạm
dụng lao động trẻ em còn nhẹ, chủ yếu mới
_______
8
Xem Hoàng Thị Kim Quế, đề tài NCKH – Mã số
NQ0809 – ĐHQGHN – hoàn thiện pháp luật về bảo đảm
quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương.
P.T.L. Phương / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 4 (2014) 58-64
63
dừng lại ở mức xử phạt hành chính, rất ít vụ bị
xử lý hình sự do vi phạm pháp luật lao động trẻ
em. Chính quyền địa phương còn chậm phát
hiện và xử lý những trường hợp sử dụng lao
động trẻ em, chỉ những vụ việc xảy ra hậu quả
nghiêm trọng mới được bị phát hiện và xử phạt.
Bốn là, các cơ quan chức năng còn gặp khó
khăn trong việc xử lý những cơ sở sử dụng lao
động trẻ em vì người sử dụng lao động không
xuất trình được giấy tờ tùy thân của lao động trẻ
em, nên chỉ căn cứ vào lời khai của các bên liên
quan để xác định độ tuổi của các em. Tuy nhiên
độ tuổi thường được khai tăng lên trên 15 tuổi
vì vậy không đủ căn cứ để xử lý.
Năm là, do nhận thức và hiểu biết về Luật
Lao động của trẻ em, gia đình và người sử dụng
lao động còn hạn chế dẫn đến vi phạm các quy
định về sử dụng lao động trẻ em9, nhiều gia
đình quan niệm rằng sự tham gia của trẻ em
trong công việc gia đình được coi là một phần
của quá trình xã hội hóa, trẻ em cần phải lao
động mới có thể phát triển trí tuệ và hình thành
nhân cách vì vậy việc trẻ em tham gia lao động
thường không được coi là lao động trẻ em.
Sáu là, trẻ em là người chưa phát triển hoàn
thiện về thể chất và tinh thần vì vậy khi tham
gia lao động thường dễ sai bảo mà hầu như
không có sự phản kháng hay tự vệ. Mặt khác,
tiền công trả cho người lao động là trẻ em
thường thấp nên người sử dụng lao động đương
nhiên ưu tiên lựa chọn lao động trẻ em.
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của công
tác phòng, chống lạm dụng lao động trẻ em
Để ngăn chặn tình trạng lạm dụng lao động
trẻ em một cách hiệu quả cần phải kết hợp đồng
bộ nhiều giải pháp khác nhau, trong đó trước
_______
9
Gia đình khó khăn về kinh tế nên cho con nghỉ học để đi
làm, trẻ em học kém nên bỏ học đi làm, người sử dụng lao
động vì lợi nhuận nên lạm dụng lao động trẻ em.
hết phải kể đến việc hoàn thiện các quy định
pháp luật về lao động trẻ em, cụ thể như sau:
Cần mở rộng

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Phòng, chống lạm dụng lao động trẻ em góp phần thúc đẩy việc thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *