[block id=”bo-sung-1″]

Ngày nay, khi mà xã hội ngày càng văn minh, phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao hơn, thì kéo theo đó là sự xuất hiện của rất nhiều những tổ chức kinh doanh cũng như tổ chức xã hội. Nhưng để duy trì và làm tổ chức của mình đứng vững trong môi trường có nhiều cạnh tranh thì đòi hỏi, những nhà tiên phong của tổ chức đó phải biết cách chèo lái thật khéo léo hướng đi của tổ chức mình. Hay nói đúng hơn, chúng ta gọi họ là những nhà quản trị. Trong mỗi tổ chức, con người luôn được lấy làm trọng tâm, làm nền móng cho sự phát triển chung. Vì vậy, làm sao để có thể lãnh đạo tốt, có thể làm hài hòa các mối quan hệ giữa con người với nhau trong tổ chức là một việc làm khó nhưng thực sự cần thiết đối với nhà quản trị. Hay nói cách khác, các nhà quản trị của chúng ta cần thực hiện chức năng rất quan trọng của mình đó là tổ chức.
Vậy tại sao phải có tổ chức? hãy đặt ra những câu hỏi sau và suy nghĩ:
– Xã hội không có luật pháp và nhà nước thì chúng ta có sống nổi trong mô trường đó không?
– Tại sao đàn kiến rất đông nhưng lại bò rất ngay hàng, thẳng lối?
– Tại sao tổ ong lại phải có ong chúa, ong thợ?.
Các chức năng của tổ chức sẽ giúp chúng ta trả lời được những câu hỏi đó.
Vậy, nếu không làm tốt công tác tổ chức, thì sẽ xảy ra điều gì?
Điển hình, đó là công ty Bibica, vào năm 2003 đã xảy ra sự cố tài chính vô cùng nghiêm trọng do quản lý không hiệu quả và chức năng tổ chức đã không được thực hiện tốt. Vậy họ đã vực dậy công ty của mình như thế nào? Tất cả sẽ được trả lời trong bài thảo luận của nhóm chúng tôi.

quan_tri_hoc_cong_tac_to_chuc_cua_cong_ty_bibica

docx30 trang | Chia sẻ: tranhieu.10 | Ngày: 24/07/2018 | Lượt xem: 783 | Lượt tải: 1download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Quản trị học – Công tác tổ chức của công ty Bibica, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

BÀI TIỂU LUẬN
MÔN QUẢN TRỊ HỌC
Đề tài:“Công tác tổ chức của công ty Bibica”
Thành viên nhóm thực hiện tiểu luận:
Nguyễn Thị Quỳnh (nhóm trưởng)
Giang Thị Tam
Đặng Thế Sơn
Trương Thị Tâm
Đỗ Thị Thanh
Nguyễn Thị Quỳnh
Nguyễn Ngọc Thạch
Trần Thị Sen
Lê Thị Thắm.
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi mà xã hội ngày càng văn minh, phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao hơn, thì kéo theo đó là sự xuất hiện của rất nhiều những tổ chức kinh doanh cũng như tổ chức xã hội. Nhưng để duy trì và làm tổ chức của mình đứng vững trong môi trường có nhiều cạnh tranh thì đòi hỏi, những nhà tiên phong của tổ chức đó phải biết cách chèo lái thật khéo léo hướng đi của tổ chức mình. Hay nói đúng hơn, chúng ta gọi họ là những nhà quản trị. Trong mỗi tổ chức, con người luôn được lấy làm trọng tâm, làm nền móng cho sự phát triển chung. Vì vậy, làm sao để có thể lãnh đạo tốt, có thể làm hài hòa các mối quan hệ giữa con người với nhau trong tổ chức là một việc làm khó nhưng thực sự cần thiết đối với nhà quản trị. Hay nói cách khác, các nhà quản trị của chúng ta cần thực hiện chức năng rất quan trọng của mình đó là tổ chức.
Vậy tại sao phải có tổ chức? hãy đặt ra những câu hỏi sau và suy nghĩ:
– Xã hội không có luật pháp và nhà nước thì chúng ta có sống nổi trong mô trường đó không?
– Tại sao đàn kiến rất đông nhưng lại bò rất ngay hàng, thẳng lối?
– Tại sao tổ ong lại phải có ong chúa, ong thợ?….
Các chức năng của tổ chức sẽ giúp chúng ta trả lời được những câu hỏi đó.
Vậy, nếu không làm tốt công tác tổ chức, thì sẽ xảy ra điều gì?
Điển hình, đó là công ty Bibica, vào năm 2003 đã xảy ra sự cố tài chính vô cùng nghiêm trọng do quản lý không hiệu quả và chức năng tổ chức đã không được thực hiện tốt. Vậy họ đã vực dậy công ty của mình như thế nào? Tất cả sẽ được trả lời trong bài thảo luận của nhóm chúng tôi.
Và sau đây sẽ là nội dung chính của bài:
NỘI DUNG
Phần 1: Cơ sở lý thuyết về chức năng tổ chức
I. Khái niệm và vai trò của tổ chức
1. Khái niệm tổ chức
1.1. Khái niệm
– Tổ chức theo tiếng Hy Lạp “Organon” nghĩa là “hài hòa”, đó là những hoạt động đem lại bản chất thích nghi với sự sống
– Theo Harold Koontz: “Công tác tổ chức là việc nhóm gộp các hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu, là việc giao phó mỗi nhóm cho một người quản lí với quyền hạn cần thiết để giám sát nó, và là việc tạo điều kiện cho sựu liên kết ngang và dọc trong cơ cấu của tổ chức”. (“Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, năm 1993, trang 267)
Từ các quan điểm khác nhau, có thể rút ra khái niệm chung nhất như sau:
Tổ chức là quá trình xác định các công việc cần phải làm và những người cần phải làm các công việc đó, định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bộ phận và cá nhân cũng như mối liên hệ giữa các bộ phận và cá nhân này trong khi tiến hành công việc , nhằm thiết lập một môi trường thuận lợi cho hoạt động và đạt đến mục tiêu chung của tổ chức.
F Tổ chức là:
– Quy định các mối quan hệ chính thức giữa mọi thành viên và các nguồn lực để đạt mục tiêu.
– Phân chia các nguồn lực ra thành các bộ phận và quy định các mối quan hệ về nhiệm vụ,quyền hạn để đạt mục tiêu.
– Một quy trình hai mặt:một là phân chia tổ chức ra thành các bộ phận; hai là xác lập các mối quan hệ về quyền hạn giữa các bộ phận.
Ví dụ: Trường học là một tổ chức.
1.2. Mục đích của tổ chức
Mục đích của tổ chức là tạo nên một môi trường nội bộ thuận lợi cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy được năng lực và nhiệt tình của mình, đóng góp tốt nhất vào việc hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức, cụ thể là:
+ Làm rõ nhiệm vụ cần phải tiến hành để đạt được mục tiêu.
+ Xây dựng bộ máy quản trị gọc nhẹ và có hiệu lực.
+ Xác định vị trí, vai trò của từng cá nhân trong tổ chức.
+ Xây dựng nề nếp văn hóa trong tổ chức.
+ Phát hiện và điều chỉnh kịp thời mọi hoạt động yếu kém trong tổ chức.
+ Phát huy sức mạnh của các nguồn tài nguyên vốn có của tổ chức.
+ Tạo thế và lực cho tổ chức thích ứng với sự thay đỏi của môi trường.
Cũng như mọi loại mục tiêu quản trị khác, mục tiêu của công tác tổ chức phải khoa học, khả thi, phải phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn. Khác với yêu cầu về các loại mục tiêu quản trị khác, yêu cầu đối với các mục tiêu về tổ chức là phải tuân thủ những quy luật khách quan đặc thù của công tác tổ chức.
Ví dụ: Xây dựng và nâng cao, phát triển trường học có mục đích để cho học sinh và sinh viên có điều kiện học tập tốt hơn, góp phần nâng cao kiến thức, giúp đất nước phát triển đi lên.
2. Vai trò của công tác tổ chức
Tổ chức có 4 vai trò sau:
• Tạo “nền móng” cho hoạt động của tổ chức nói chung và cho hoạt động quản trị nói riêng.Công tác hoạch định, lãnh đạo, kiểm soát đều phải dựa trên một cấu trúc tổ chức nhất định sao cho phù hợp và hiệu quả.
• Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của tổ chức, đặc biệt là nguồn nhân lực và cơ sở vật chất kĩ thuật. Việc phân công lao động khoa học, phân quyền hợp lí và xác định tầm hạn quản trị phù hợp sẽ tạo điều kiện cho nhân viên phát huy tốt nhất năng lực sở trường của họ. Mặt khác sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự mở rộng và đa dạng hóa tổ chức, nâng cao tính độc lập, tự chủ, sáng tạo cho đội ngũ các nhà quản trị.
• Nếu công tác tổ chức không được thực hiện tốt sẽ gây ra nhiều khó khăn phức tạp cho công tác quản lí. Có khoảng 75% – 80% những vấn đề khó khăn, phức tạp trong công tác quản trị phải được xem xét giải quyết bắt đầu từ những nhược điểm của công tác tổ chức. Hơn nữa, phần lớn những khuyết điểm mắc phải trong một tổ chức là do có sự coi thường và vi phạm các quy luật của tổ chức.
• Tạo ra văn hóa tổ chức – nền tảng của sự hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức để nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức.
Ví dụ: Trong trường học phải bầu ra những giáo viên giỏi làm hiệu trưởng, hiệu phó, trưởng khoa… để đưa trường học ngày càng đi lên.
II. Cấu trúc của tổ chức.
1. Khái niệm và đặc điểm của cấu trúc tổ chức
1.1. Khái niệm
– Cấu trúc (hay cơ cấu) tổ chức là một tập hợp bao gồm các bộ phận (đơn vị hay cá nhân) khác nhau, có mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc nhau,được chuyên môn hóa theo những chức trách, nhiêm vụ và quyền hạn nhất định nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu chung đã được xác định.
+ Cơ cấu tổ chức cho phép sử dụng hợp lý các nguồn lực.
+ Cơ cấu tổ chức cho phép xác định rõ vị trí, vai trò của các đơn vị, cá nhân, cũng như mối liên hệ giữa các đơn vị và cá nhân này,hình thành các nhóm chính thức trong tổ chức.
+ Cơ cấu tổ chức phân định rõ các dòng thông tin,góp phần quan trọng trong việc ra các quyết định quản trị.
1.2. Đặc điểm của cấu trúc tổ chức
– Tính tập trung:phản ánh mức độ tập trung (hay phân tán) quyền lực của tổ chức cho các cá nhân hay bộ phận. Ví dụ: nếu quyền lực trong tổ chức được tập trung chủ yếu cho một cá nhân thì tính tập trung của tổ chức là cao và ngược lại.
– Tính phức tạp: phản ánh số lượng các cấp, các khâu trong cấu trúc tổ chức. Nếu có nhiều cấp,nhiều khâu với nhiều mối quan hệ phức tạp, cấu trúc tổ chức có tính phức tạp cao và ngược lại.
– Tính tiêu chuẩn hóa: phản ánh mức độ ràng buộc các hoạt động,các hành vi của mỗi bộ phận và cá nhân, thông qua các chính sách, thủ tục, quy tắc hay các nội quy, quy chế Nếu mức độ ràng buộc cao,tính tiêu chuẩn hóa cao sẽ tạo ra sức mạnh của tổ chức.
Các chuẩn mực phải rõ ràng, ưu thế, lượng hóa và được thể hiện bằng văn bản.
2. Các nguyên tắc cấu trúc tổ chức
2.1. Tương thích giữa hình thức và chức năng
Khi thiết kế cấu trúc tổ chức, các bộ phận hay các đơn vị cấu thành đều phải nhằm thực hiện các chức năng, hay xuất phát từ việc thực hiện các chức năng. “Hình thức phải đi sau chức năng”.
Trong tổ chức hoạt động kinh doanh, mỗi bộ phận (hay đơn vị) và cá nhân đều phải có sự tồn tại khách quan và cần thiết, do việc tham gia thực hiện các chức năng của tổ chức. Sự lựa chọn mô hình, sự phân công, phân quyền hay giao trách nhiệm cho các bộ phận, cá nhân đều phải xuất phát từ việc thực hiện chức năng, thông qua việc thực hiện các mục tiêu đã xác định.
2.2. Tính thống nhất, chỉ huy
Cấu trúc tổ chức được xác lập phải đảm bảo mỗi đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm báo cáo cho nhà quản trị trực tiếp của mình, đảm bảo sự chỉ huy mang tính thống nhất trong toàn tổ chức, tránh tình trạnh chồng chéo, mâu thuẫn.
2.3. Cân đối
Tính cân đối thể hiện sự cân đối giữa quyền hành và trách nhiệm,cân đối về công việc giữa các đơn vị, cá nhân với nhau. Sự cân đối sẽ tạo ra sự ổn định, bền vững trong quá trình phát triển của tổ chức.
2.4. Tin cậy
Đảm bảo tính chính xác của tất cả các thông tin được sử dụng trong tổ chức, nhờ đó đảm bảo tính thống nhất, ăn khớp về hoạt dộng giữa các bộ phận, cá nhân trong tổ chức cũng như tính chính xác của các quyết định quản trị được ban hành.
2.5. Linh hoạt
Cấu trúc tổ chức phải có khả năng thích ứng,đối phó kịp thời với sự thay đổi của môi trường bên trong cũng như bên ngoài của tổ chức.
2.6. Hiệu quả
Cấu trúc tổ chức phải xây dựng trên nguyên tắc sử dụng chi phí đạt hiệu quả cao nhất (dựa trên tiêu chuẩn về mối tương quan giữa chi phí dự định bỏ ra và kết quả thu về).
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tổ chức
3.1. Mục tiêu và chiến lược của tổ chức
Cấu trúc tổ chức được xây dựng nhằm đáp ứng mục tiêu của tổ chức. Vì vậy,khi mục tiêu và chiến lược của tổ chức thay đổi thì cấu trúc tổ chức tổ chức phải có sự thay đổi,điều chỉnh và hoàn thiện sao cho phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của mục tiêu và chiến lược.
3.2. Chức năng và nhiệm vụ của tổ chức
Đây là cơ sở pháp lý, là căn cứ quan trọng để từng tổ chức thiết kế cấu trúc tổ chức để đảm bảo thực hiện tốt chức năng,nhiệm vụ của mình.
Chẳng hạn, cấu trúc tổ chức của một doanh nghiệp kinh doanh chắc chắn sẽ phải có sự khác biệt với cấu trúc tổ chức của một trường đại học do chức năng, nhiệm vụ của chúng là khác nhau
3.3. Quy mô của tổ chức
Quy mô tổ chức càng lớn, cấu trúc tổ chức càng phức tạp, bởi vì quy mô lớn đòi hỏi tổ chức phải có nhiều cấp, nhiều bộ phận, đơn vị nên tạo ra nhiều mối quan hệ phức tạp trong tổ chức.
3.4. Môi trường bên ngoài của tổ chức
Trong điều kiện môi trường bên ngoài ổn định,các yếu tố của môi trường có thể dự đoán và dễ kiểm soát thì cấu trúc tổ chức có tính ổn định, ít phức tạp. Ngược lại khi môi trường có nhiều biến động,có nhiều yếu tố khó dự báo thì cấu trúc tổ chức tổ chức sẽ phức tạp hơn, đòi hỏi phải có sự linh hoạt cao hơn, nên việc lựa chọn một cấu trúc tổ chức hữu cơ là cần thiết.
3.5. Đặc điểm về kỹ thuật,công nghệ của tổ chức
Trong tổ chức, kĩ thuật,công nghệ được sử dụng càng hiện đại bao nhiêu, thiết bị càng có xu hướng tự động hóa cao thì cấu trúc tổ chức càng đơn giản hơn.
3.6. Trình độ quản trị viên và trang thiết bị quản trị
Với đội ngũ quản trị viên có trình độ, kinh nghiệm và kiến thức, thì trong cấu trúc tổ chức có thể giảm bớt đầu mối, các mối quan hệ,các bộ phận quản trị với nhau.
Với trang thiết bị quản trị hiện đại, đầy đủ sẽ đáp ứng tốt hơn các yêu cầu công việc, vì thế mà cấu trúc tổ chức quản lí sẽ đơn giản hơn.
4. Các mô hình cấu trúc của tổ chức
4.1. Cấu trúc tổ chức đơn giản (cấu trúc trực tuyến)
– Đặc điểm:
+ Quyền hành quản trị tập trung cao độ vào tay một người.
+ Có ít cấp quản trị trung gian, số lượng nhân viên không nhiều.
+Mọi thông tin đều được tập trung về cho người quản lý cao nhất xử lý và mọi quyết định cũng phát ra từ đó.
Tổng giám đốc
– Mô hình cấu trúc tổ chức đơn giản:
Giám đốc tuyến 2
Giám đốc tuyến 3
Giám đốc tuyến 4
Giám đốc tuyến 1
– Ưu điểm:
+ Gọn nhẹ, linh hoạt.
+ Chi phí quản lý thấp, có thể mang lại hiệu quả cao.
+ Kiểm soát và điều chỉnh dễ dàng, có thể hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng quan liêu giấy tờ.
– Nhược điểm:
+ Mỗi nhà quản trị phải làm nhiều công việc khác nhau cùng một lúc, hạn chế tính chuyên môn hóa.
+ Tình trạng quá tải đối với cấp quản trị.
– Cấu trúc tổ chức đơn giản chỉ nên áp dụng đối với các tổ chức có quy mô nhỏ, tính chất hoạt động đơn giản.
4.2. Cấu trúc tổ chức chức năng
– Đặc điểm:
+ Chia tổ chức thành các tuyến chức năng,mỗi tuyến là một bộ phận hay đơn vị đảm nhận thực hiện một hay một số chức năng, nhiệm vụ nào đó của tổ chức. Mỗi bộ phận này được đặt dưới sự điều hành của một giám đốc chức năng.
+ Các hoạt động giống nhau hoặc gần giống nhau được tập trung lại trong một tuyến chức năng như hoạt động sản xuất, thương mại, nhân sự, tài chính, marketing
– Mô hình cấu trúc tổ chức chức năng:
Tổng giám đốc
Giám đốc chức năng D
Giám đốc chức năng C
Giám đốc chức năng B
Giám đốc chức năng A
– Ưu điểm:
+ Phản ánh logic chức năng.
+ Tuân thủ nguyên tắc chuyên môn hóa công việc.
+ Nêu bật vai trò của các chức năng chủ yếu.
+ Đơn giản hóa việc đào tạo và huấn luyện nhân sự.
+ Dễ kiểm soát.
– Nhược điểm:
+ Chỉ có cấp quản trị cao nhất mới có trách nhiệm về lợi nhuận.
+ Tầm nhìn bị hạn chế.
+ Tính phối hợp kém giữa các bộ phận chức năng.
+ Tính hệ thống bị suy giảm.
+ Kém linh hoạt.
– Cấu trúc tổ chức theo chức năng chỉ phát huy tác dụng trong hoạt động của tổ chức tương đối ổn định với cơ cấu sản phẩm duy nhất hoặc hoạt động kinh doanh đòi hỏi trình độ chuyên môn hóa và sử dụng trang thiết bị chuyên dung công nghệ cao. Ngược lại nó sẽ bộc lộ các nhược điểm nếu môi trường kinh doanh không ổn định hoặc kinh doanh đa dạng hóa sản phẩm.
4.3. Cấu trúc tổ chức theo sản phẩm
– Đặc điểm:
+ Chia tổ chức thành các “nhánh”, mỗi nhánh đảm nhận toàn bộ hoạt động kinh doanh theo các loại hoặc nhóm sản phẩm nhất định.
+ Mỗi nhánh vẫn có thể sử dụng các bộ phận chức năng hoặc các chuyên gia chuyên môn tập hợp xung quanh các giám đốc bộ phận để hỗ trợ hay giúp việc.
– Mô hình cấu trúc tổ chức theo sản phẩm:
Tổng giám đốc
Giám đốc sản phẩm C
Giám đốc sản phẩm D
Giám đốc sản phẩm B
Giám đốc sản phẩm A
– Ưu điểm:
+ Hướng sự chú ý và nỗ lực vào tuyến sản phẩm.
+ Trách nhiệm lợi nhuận thuộc các nhà quản trị cấp dưới.
+ Phối hợp tốt giữa các bộ phận,các nhóm trong tổ chức.
+ Rèn luyện kỹ năng tổng hợp cho các nhà quản trị.
+ Linh hoạt trong việc đa dạng hóa, có thể dễ dàng đổi mới và thích ứng với sự thay đổi của môi trường.
– Nhược điểm:
+ Cần nhiều nhà quản trị tổng hợp.
+ Công việc có thể bị trùng lặp ở các bộ phận khác nhau dẫn tới chi phí và giá thành cao.
+ Khó kiểm soát.
+ Cạnh tranh nội bộ về nguồn lực.
– Cấu trúc tổ chức theo sản phẩm thường phát huy tác dụng khi môi trường hoạt động của tổ chức có sự thay đổi hay nhiều biến động, có nhiều yếu tố nhấn mạnh đến khía cạnh kinh doanh hơn là việc đảm bảo yêu cầu kĩ thuật cao, hoặc khi tổ chức theo đuổi chiến lược đa dạng hóa sản phẩm.
4.4. Cấu trúc tổ chức theo khu vực địa lý
– Đặc điểm:
+ Chia tổ chức thành các nhánh,mỗi nhánh đảm nhận thực hiện hoạt động của tổ chức theo từng khu vực địa lý.
+ Mỗi nhà quản trị đại diện ở khu vực chịu trách nhiệm phân phối sản phẩm và dịch vụ theo một vùng địa lý cụ thể.
– Mô hình cấu trúc tổ chức theo khu vực địa lý:
Tổng giám đốc
GĐ khu vực 4
GĐ khu vực 3
GĐ khu vực 2
GĐ khu vực 1
– Ưu điểm:
+ Các nhà quản trị cấp thấp thấy rõ trách nhiệm của mình, giảm bớt phạm vi công việc phải điều hành trực tiếp của nhà quản trị cấp cao.
+ Chú ý đến những đặc điểm của thị trường địa phương.
+ Tận dụng tốt các lợi thế theo vùng.
+ Quan hệ tốt với các đại diện địa phương.
+ Tiết kiệm thời gian đi lại của nhân viên.
– Nhược điểm:
+ Cần nhiều nhà quản trị tổng hợp.
+ Công việc có thể bị trùng lặp ở các khu vực khác nhau.
+ Phân tán nguồn lực.
+ Khó kiểm soát.
4.5. Cấu trúc tổ chức định hướng theo khách hàng
– Đặc điểm:
+ Chia tổ chức thành các nhánh, mỗi nhánh đảm nhận toàn bộ hoạt động kinh doanh nhằm phục vụ một đối tượng khách hàng nào đó.
Ví dụ như các doanh nghiệp sản xuất, các doanh nghiệp thương mại dịch vụ, chính phủ, người tiêu dùng trực tiếp
+ Mỗi đơn vị khách hàng tập trung vào việc thỏa mãn nhu cầu của từng nhóm khách hàng chuyên biệt.
– Mô hình cấu trúc tổ chức theo khách hàng:
Tổng giám đốc
GĐ khách hàng loại 4
GĐ khách hàng loại 3
GĐ khách hàng loại 2
GĐ khách hàng loại 1
– Ưu điểm:
+ Tạo sự hiểu biết khách hàng tốt hơn, phục vụ các dạng khách hàng khác nhau.
+ Toàn bộ hoạt động của tổ chức hướng vào kết quả cuối cùng.
+ Rèn luyện kỹ năng tổng hợp cho các nhà quản trị.
– Nhược điểm:
+ Cần nhiều nhà quản trị tổng hợp.
+ Công việc có thể bị trùng lặp ở các bộ phận khách hàng khác nhau.
+ Khó kiểm soát.
+ Cạnh tranh nội bộ về nguồn lực.
4.6. Cấu trúc tổ chức dạng ma trận
– Đặc điểm:
+ Là cấu trúc kết hợp các cấu trúc tổ chức trên để tận dụng các ưu điểm của mỗi loại và hạn chế tối đa những nhược điểm của chúng.
+ Cấu trúc ma trận có 2 hệ thống chỉ huy cặp đôi(theo chức năng và theo sản phẩm hoặc theo khu vực địa lý, theo khách hàng), vì vậy tồn tại cùng lúc 2 tuyến chỉ đạo trực tuyến.
– Mô hình cấu trúc tổ chức dạng ma trận:
Tổng giám đốc
Giám đốc tiếp thị
Giám đốc nhân sự
Giám đốc tài chính
Giám đốc kinh doanh
GĐ ngành hàng A
GĐ ngành hàng B
– Ưu điểm:
+ Cho phép tổ chức đạt được đồng thời nhiều mục đích.
+ Trách nhiệm của từng bộ phận được phân định rõ.
+ Phối hợp tốt giữa các bộ phận.
+ Rèn luyện kỹ năng tổng hợp cho các nhà quản trị.
– Nhược điểm:
+ Tồn tại song song hai tuyến chỉ đạo trực tuyến,dễ nảy sinh mâu thuẫn trong việc thực hiện mệnh lệnh.
+ Có sự tranh chấp quyền lực giữa các bộ phận.
+ Khó kiểm soát.
4.7. Cấu trúc tổ chức hỗn hợp
– Đặc điểm:
+ Kết hợp logic các loại cấu trúc tổ chức để khai thác hiệu quả mọi nguồn lực trong tổ chức.
+ Có thể tận dụng các ưu điểm và hạn chế những nhược điểm của các cấu trúc kết hợp.
– Mô hình cấu trúc tổ chức hỗn hợp:
Tổng giám đốc
PCT nhân sự
PCT tài chính
PCT marketing
PCT kỹ thuật
PCT sản xuất
Tổng giám đốc sản phẩm nông nghiệp
Tổng giám đốc sản phẩm công nghiệp
Giám đốc khu vực II
Giám đốc khu vực I
Giám đốc khu vực II
Giám đốc khu vực I
– Ưu điểm:
+ Giải quyết được những tình huống phức tạp.
+ Cho phép chuyên môn hóa một số cấu trúc tổ chức.
+ Rèn luyện kỹ năng tổng hợp cho các nhà quản trị.
– Nhược điểm:
+ Cấu trúc tổ chức phức tạp.
+ Quyền lực và trách nhiệm của các nhà quản trị có thể bị trùng lặp nhau, tạo ra sự xung đột.
+ Khó kiểm soát.
III. Phân quyền trong công tác tổ chức
1. Khái niệm và các hình thức phân quyền
1.1. Khái niệm
Phân quyền là quá trình chuyển giao nhiệm vụ và quyền hạn cho bộ phận hay cá nhân trong tổ chức có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ đó.
Nhiệm vụ được hiểu là những công việc hay những phần công việc mà các thành viên trong tổ chức phải thực hiện để đạt được mục tiêu.
Quyền hạn được hiểu là quyền sử dụng các nguồn lực của tổ chức để thực hiện các nhiêm vụ.
Trách nhiệm được hiểu là nghĩa vụ phải hoàn thành nhiệm vụ và hoàn thành đúng với yêu cầu của người giao.
– Trong trường hợp quyền hạn không được giao phó, người ta nói đến tập quyền. Tập quyền là quá trình thâu tóm quyền ra quyết định vào trong tay một người.
– Trong mỗi tổ chức đều có sự phân quyền nào đó, nhưng không có sự phân quyền tuyệt đối.
– Quyền hạn được giao cho các chức vụ chứ không phải giao cho một cá nhân, nhưng vì mỗi chức vụ do một cá nhân nắm giữ trong một thời gian nhất định, vì vậy quyền hạn luôn gắn liền với cá nhân.
1.2. Các hình thức phân quyền
– Phân quyền theo chức năng: Là hình thức phân quyền theo các chức năng, nhiệm vụ của tổ chức, chẳng hạn như sản xuất, cung ứng, marketing, nhân sự, tài chính
– Phân quyền theo chiến lược: Là hình thức phân quyền cho các bậc trung gian phía dưới để thực hiện các chiến lược, chẳng hạn như xác định giá cả, chọn lựa đầu tư, đa dạng hóa sản phẩm,
1.3. Sự cần thiết của phân quyền trong tổ chức
– Nhà quản trị cơ sở gắn trực tiếp với các tình huống cụ thể hơn.
– Việc trao quyền hạn tương đối lớn sẽ khuyến khích phát triển các nhà quản tri chuyên nghiệp.
– Khả năng thực hiên quyền tự quản nhiều hơn, vì vậy việc thực hiện công viêc nhanh hơn.
– Đào tạo cấp dưới, tạo điều kiện cho họ phát triển, từ đó động viên kích thích họ làm việc tốt hơn.
– Giảm áp lực về công việc đối với các nhà quản trị cấp trên, tạo điều kiện cho họ tập trung vào các vấn đề chiến lược.
2. Các yêu cầu khi phân quyền
– Rộng rãi với cấp dưới,tạo cơ hội cho họ tự thể hiệ

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Quản trị học – Công tác tổ chức của công ty Bibica

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *