[block id=”bo-sung-1″]

Sau khi gia nhập WTO, cơ chế kinh tế của nước ta thông thoáng hơn, tạo điều kiện
thuận lợi cho các công ty, tập đoàn kinh tế lớn của nước ngoài “thâm nhập” vào thị
trường Việt Nam. Đây là bước tiến thể hiện sự hội nhập của kinh tế, nhưng đồng thời
cũng có nghĩa là các doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh khốc liệt hơn để tồn tại và
phát triển. Bằng con đường nhượng quyền thương hiệu, nhiều tên tuổi lớn thuộc nhiều
lĩnh vực, ngành nghề của thế giới đã thâm nhập vào thị trường Việt Nam thông qua hình
thức nhượng quyền thương mại. Trong lĩnh vực đồ ăn nhanh, người tiêu dùng đã dần
quen thuộc với các thương hiệu nổi danh thế giới như KFC, Lotteria, Trong lĩnh vực
siêu thị, Đức “đổ bộ” vào Việt Nam với hệ thống siêu thị Metro nằm ở những địa thế đẹp
và thuận lợi. “Đại gia” mực in Cartridge World cũng không chịu kém cạnh khi bắt đầu
chiến lược nhượng quyền thương mại qui mô tại nước ta.
Đó là những thương hiệu lớn đã thành danh ở Việt Nam nhờ nhượng quyền
thương mại, còn rất nhiều những công ty, tập đoàn của nước ngoài khác cũng đang phát
triển mạnh mẽ tại thị trường nước ta nhờ hình thức kinh doanh này.
Vậy cần hiểu nhượng quyền thương mại là gì?
Chính vì vậy, đề tài “Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt
Nam” đã được nhóm em lựa chọn làm đề tài nghiên cứu, nhằm tìm hiểu rõ hoạt động
nhượng quyền đang diễn ra ở Việt Nam như thế nào?
Đề tài gồm 3 phần chính:
I. Khái quát chung về nhượng quyền thương mại
II. Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
III. Một số giải pháp cho hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam

Tải tài liệu miễn phí - My WordPress Blog31
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1
Tiểu luận
Thực trạng hoạt động nhượng
quyền thương mại tại Việt Nam
2
LỜI MỞ ĐẦU
Sau khi gia nhập WTO, cơ chế kinh tế của nước ta thông thoáng hơn, tạo điều kiện
thuận lợi cho các công ty, tập đoàn kinh tế lớn của nước ngoài “thâm nhập” vào thị
trường Việt Nam. Đây là bước tiến thể hiện sự hội nhập của kinh tế, nhưng đồng thời
cũng có nghĩa là các doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh khốc liệt hơn để tồn tại và
phát triển. Bằng con đường nhượng quyền thương hiệu, nhiều tên tuổi lớn thuộc nhiều
lĩnh vực, ngành nghề của thế giới đã thâm nhập vào thị trường Việt Nam thông qua hình
thức nhượng quyền thương mại. Trong lĩnh vực đồ ăn nhanh, người tiêu dùng đã dần
quen thuộc với các thương hiệu nổi danh thế giới như KFC, Lotteria,… Trong lĩnh vực
siêu thị, Đức “đổ bộ” vào Việt Nam với hệ thống siêu thị Metro nằm ở những địa thế đẹp
và thuận lợi. “Đại gia” mực in Cartridge World cũng không chịu kém cạnh khi bắt đầu
chiến lược nhượng quyền thương mại qui mô tại nước ta.
Đó là những thương hiệu lớn đã thành danh ở Việt Nam nhờ nhượng quyền
thương mại, còn rất nhiều những công ty, tập đoàn của nước ngoài khác cũng đang phát
triển mạnh mẽ tại thị trường nước ta nhờ hình thức kinh doanh này.
Vậy cần hiểu nhượng quyền thương mại là gì?
Chính vì vậy, đề tài “Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt
Nam” đã được nhóm em lựa chọn làm đề tài nghiên cứu, nhằm tìm hiểu rõ hoạt động
nhượng quyền đang diễn ra ở Việt Nam như thế nào?
Đề tài gồm 3 phần chính:
I. Khái quát chung về nhượng quyền thương mại
II. Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
III. Một số giải pháp cho hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
3
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
1. Khái niệm nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền thương mại (franchise) được coi là khởi nguồn tại Mỹ vào giữa
thế kỷ 19. Nhưng thực tế đã hình thành trước đó tại Trung Quốc với hình thức có 2
– 3 điểm bán lẻ cùng hình thức tại một số địa điểm khác nhau cùng kinh doanh.
Năm 1840, các nhà sản xuất bia của Đức cho phép một vài quán bia quyền bán
sản phẩm của họ.
Năm 1851, lần đầu tiên trên thế giới nhà sản xuất máy khâu Singer của Mỹ ký
cho thực hiện hợp đồng nhượng quyền kinh doanh. Singer đã ký hợp đồng nhượng
quyền và trở thành người tiên phong trong việc thoả thuận hình thức nhượng
quyền.
Năm 1880 bắt đầu nhượng quyền bán sản phẩm cho các đại lý độc quyền trong
lĩnh vực xe hơi, dầu lửa, gas.
Hiện nay, hoạt động nhượng quyền đã có mặt tại 160 nước trên thế giới với
tổng doanh thu lên tới 18,3 tỷ USD năm 2000.
Hoạt động nhượng quyền kinh doanh đang phát triển rất nhanh tại Việt Nam,
khởi đầu từ những năm 1990.
Theo định nghĩa của Hội Đồng Thương Mại Liên Bang Hoa Kỳ:
“Franchise là một hay thoả thuận giữa ít nhất hai người, trong đó: người mua
franchise được cấp quyền bán hay phân phối sản phẩm, dịch vụ theo cùng một kế
hoạch hay hệ thống tiếp thị của người chủ thương hiệu. Hoạt động kinh doanh của
người mua franchise phải triệt để tuân theo kế hoạch hay hệ thống tiếp thị này, gắn
liền với nhãn hiệu, thương hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu, tiêu chí, quảng cáo và
những biểu tượng thương mại khác của chủ thương hiệu. Người mua franchise
phải trả một khoản phí trực tiếp hay gián tiếp, gọi là phí franchise”.
Còn theo định nghĩa trong Luật thương mại của Quốc Hội nước Việt Nam số
36/2005/QH11 ngày 14/06/2005 thì “Nhượng quyền thương mại là một hoạt
động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận
quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều
kiện sau đây:
 Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ
chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng
4
hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh
doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền.
 Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận nhượng
quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh”.
Dù có nhiều định nghĩa như vậy nhưng tóm lại, nhượng quyền thương mại là
một phương thức kinh doanh trong đó, phải đảm bảo các yếu tố sau:
Trước hết là có sự tham gia của hai chủ thể một là bên nhượng quyền và là
người chủ của thương hiệu (franchisor) và hai là bên nhận quyền và là người thuê
thương hiệu (franchisee).
Định nghĩa nêu rõ rằng bên nhận quyền có quyền được phân phối hay bán các
hàng hóa và dịch vụ của bên nhượng quyền ở một khu vực nhất định, trong thời
gian nhất định, nhưng phải tuân theo các kế hoạch hay hệ thống marketing của bên
nhượng quyền để đảm bảo thương hiệu được đề cập ở trên luôn là một thể thống
nhất và đảm bảo thương hiệu của bên bán không bị ảnh hưởng. Đồng thời bên
nhận quyền cũng phải trả cho bên nhượng quyền một khoản phí nhất định gọi là
phí franchise.
2. Thương hiệu – Tài sản quí giá nhất của hệ thống Franchise
Thương hiệu không phải là một nhãn hàng hóa vô tri gắn trên một sản phẩm.
Thương hiệu là một khái niệm trừu tượng, song nó có những đặc tính riêng và
rất giống với con người. Thương hiệu có tính cách và định hướng mục tiêu,
thương hiệu quan tâm đến dáng vẻ bề ngoài và ấn tượng mà nó tạo ra. Nó bao
gồm rất nhiều yếu tố, nhưng giá trị của thương hiệu còn cao hơn giá trị của các
yếu tố đó gộp lại.
Đối với người tiêu dùng, thương hiệu là một cái tên đáp ứng cho một nhu cầu
cụ thể nào đó của người tiêu dùng, về cả lý tính và cảm tính. Thương hiệu là sự
bảo đảm về chất lượng tương ứng của sản phẩm và còn là một công cụ để người
tiêu dùng thể hiện bản thân mình trong xã hội.
Từ góc độ công ty, thương hiệu là một loại sản phẩm cụ thể, bởi mỗi công ty
có thể có nhiều loại sản phẩm khác nhau. Thương hiệu là một trong nhiều loại giá
trị vô hình.
Trong hoạt động franchise, như đã nhấn mạnh từ định nghĩa, thương hiệu là
yếu tố cốt lõi để hoạt động này có thể thực hiện được vì thực chất người chủ
5
thương hiệu đã nhượng lại quyền được sử dụng thương hiệu của mình cho bên
nhận nhượng quyền tại một khu vực nhất định và trong khoảng thời gian nhất
định. Do đó, thương hiệu đóng một vai trò rất quan trọng đối với cả người mua và
bán franchise.
Đối với người bán franchise, thương hiệu đóng vai trò đem lại lợi nhuận cho
họ từ uy tín và sự nổi tiếng của thương hiệu. Khi nhượng quyền một thương hiệu
càng nổi tiếng và uy tín thì người chủ thương hiệu càng nhận nhiều phí franchise
hơn và cũng dễ dàng bán franchise cho đối tác hơn vì chắc chắn rằng người mua
franchise sẽ sẵn sàng bỏ nhiều tiền hơn để mua một thương hiệu mạnh vì họ sẽ
dễ dàng bán sản phẩm hay dịch vụ hơn.
Đối với người mua franchise thì thương hiệu đóng vai trò quan trọng hơn rất
nhiều. Trước hết, thương hiệu thành công như đã nói ở trên, sẽ mang khách hàng
lại cho cửa hiệu vì theo định luật bầy đàn thì mọi người sẽ tin tưởng sử dụng loại
sản phẩm của thương hiệu đã được nhiều người sử dụng. Thương hiệu mạnh là
dấu chứng nhận bảo đảm chất lượng của sản phẩm, dịch vụ cung cấp. Bên cạnh
đó, thương hiệu thể hiện cá tính, địa vị, phong cách sống của người sử dụng, giúp
thỏa mãn các nhu cầu về tinh thần của họ, là thứ mà người tiêu dùng sẵn sàng trả
thêm một khoản tiền xứng đáng để có được thương hiệu mong muốn.
Bên cạnh đó, thương hiệu mạnh cũng giúp cho người được nhượng quyền có
thế mạnh khi thương lượng với nhà cung ứng nguyên vật liệu, nhà phân phối về
giá cả, thanh toán, vận tải,…
Mặt khác, khi được nhượng quyền với một thương hiệu mạnh với thị phần lớn,
mức độ hiện diện lớn sẽ nâng cao hiệu quả của các hoạt động tiếp thị, giúp giảm
chi phí tiếp thị trên mỗi sản phẩm. Dĩ nhiên, thương hiệu mạnh dễ dàng được
hưởng các ưu đãi từ các kênh truyền thông đại chúng.
3. Các loại hình nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền có tham gia quản lý (management franchise): Hình thức
nhượng quyền phổ biến hay gặp ở các chuỗi khách sạn lớn như Holiday Inc,
Marriott, trong đó bên nhượng quyền hỗ trọ cung cấp người quản lý và điều hành
doanh nghiệp ngoài việc chuyển nhượng sở hữu thương hiệu và mô hình, công
thức kinh doanh.
6
Nhượng quyền mô hình kinh doanh toàn diện (full business format
franchise)
Mô hình này được cấu trúc chặt chẽ và hoàn chỉnh nhất trong các mô hình
nhượng quyền, thể hiện mức độ hợp tác và cam kết cao nhất giữa các bên, có thời
hạn hợp đồng từ trung hạn (5 năm) đến dài hạn (20 hay 30 năm). Điển hình của
loại franchise này có thể kể đến chuỗi thức ăn nhanh KFC, Subway, McDonald’s,
Starbucks, hoặc phở 24 của Việt Nam.
Bên nhượng quyền chia sẻ và chuyển nhượng ít nhất 4 loại “sản phẩm” cơ bản,
bao gồm:
 Hệ thống: chiến lược, mô hình, quy trình vận hành được chuẩn hóa, chính
sách quản lý, cẩm nang điều hành, huấn luyện, tư vấn và hỗ trợ khai trương, kiểm
soát, hỗ trợ tiếp thị, quảng cáo.
 Bí quyết công nghệ sản xuất, kinh doanh.
 Hệ thống thương hiệu.
 Sản phẩm, dịch vụ.
Bên nhận quyền có trách nhiệm thanh toán cho bên nhượng quyền hai khoản
phí cơ bản là: phí nhượng quyền ban đầu (up – front fee) và phí hoạt động (royalty
fee), thường được tính theo doanh số bán định kỳ. Ngoài ra bên nhượng quyền có
thể thu thêm các khoản chi phí khác như chi phí thiết kế và trang trí cửa hàng, mua
trang thiết bị, chi phí tiếp thị, quảng cáo, các khoản chênh lệch do mua nguyên vật
liệu, chi phí tư vấn…
Nhượng quyền có tham gia đầu tư vốn (equity franchise)
Người nhượng quyền tham gia vốn đầu tư với tỉ lệ nhỏ dưới dạng liên doanh,
như trường hợp của Five Star Chicken (Mỹ) ở Việt Nam để trực tiếp tham gia
kiểm soát hệ thống. Bên nhượng quyền có thể tham gia Hội Đồng Quản Trị công
ty mặc dù vốn tham gia đóng góp chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ.
Tùy theo năng lực quản lý, sức mạnh thương hiệu, đặc trưng ngành hàng, cạnh
tranh thị trường, bên nhượng quyền sẽ cân nhắc thêm ba yếu tố quan trọng sau khi
lựa chọn mô hình franchise phù hợp cho doanh nghiệp mình. Đó là mức độ kiểm
soát hệ thống, chi phí phát triển hệ thống và mức độ bao phủ thị trường. Những
yếu tố này cũng bao phủ đến chiến lược franchise và cách lựa chọn các cấu
trúc franchise phù hợp khi ký kết hợp đồng như: franchise một hoặc nhiều đơn vị
7
(single/multiple – unit franchise), đại diện (franchise) toàn quyền (master
franchise), franchise phụ trách phát triển khu vực (area development) hay đại diện
franchise (representative franchise), đặc biệt khi công ty mở rộng thị trường mới
hay định hướng xuất khẩu.
Nhượng quyền mô hình kinh doanh không toàn diện (non-business format
franchise)
Việc chuyển nhượng một số yếu tố nhất định của mô hình nhượng quyền hoàn
chỉnh theo nguyên tắc quản lý “lỏng lẻo” hơn, bao gồm các trường hợp phổ biến
như sau:
 Nhượng quyền phân phối sản phẩm, dịch vụ (product distribution
franchise) như sơ mi cao cấp Pierre Cardin cho An Phước, Foci, chuỗi cà phê
Trung Nguyên…
 Nhượng quyền công thức sản xuất sản phẩm và tiếp thị (marketing
franchise) như CocaCola.
 Nhượng quyền thương hiệu (brand franchise/trademark license) như
Crysler nhượng quyền sử dụng thương hiệu Jeep và Pepsi cho sản phẩm thời trang
may mặc ở châu Á; nhượng quyền thương hiệu Hallmark (sản phẩm chính là
thiệp) để sản xuất các sản phẩm gia dụng như ra giường, nệm gối; nhượng quyền
sử dụng các biểu tượng và hình ảnh của Disney trên các sản phẩm đồ chơi.
 Nhượng quyền “lỏng lẻo” theo kiểu các nhóm dùng chung tên thương hiệu
(banner grouping hoặc voluntary chains), thường hay gặp ở các công ty cung cấp
dịch vụ chuyên nghiệp (professional service) hoặc loại tư vấn kinh doanh, tư vấn
pháp lý như KPMG, Ernst&Young, Grant Thornton…
Nhìn chung đối với mô hình nhượng quyền không toàn diện này, bên nhượng
quyền là chủ thể sở hữu thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ thường không nỗ lực
kiểm soát chặt chẽ hoạt động của bên nhận quyền và thu nhập của bên nhượng
quyền chủ yếu từ việc bán sản phẩm hay dịch vụ. Bên nhượng quyền thường có ý
định mở rộng nhanh chóng hệ thống phân phối nhằm gia tăng độ bao phủ thị
trường, doanh thu và đi trước đối thủ như trường hợp cà phê Trung Nguyên hoặc
G7 – Mart. Đặc biệt, nhượng quyền thương hiệu (brand licensing) trở thành ngành
kinh doanh hấp dẫn và mang lại nhiều lợi nhuận to lớn cho bên nhượng quyền với
8
tư cách là chủ thể sở hữu thương hiệu mạnh (như Pepsi) và bên nhận quyền khi
tiếp nhận và kinh doanh sản phẩm gắn liền với thương hiệu đó (trường hợp thời
trang Pepsi không có liên hệ gì với sản phẩm “lõi” nước giải khát Pepsi mang
cùng thương hiệu) nhờ sử dụng lợi thế giá trị tài sản thương hiệu đã được phát
triển qua nhiều năm.
Đối với các công ty trong nước, franchise là lãnh vực còn khá mới. Rất ít
doanh nghiệp hiểu biết sâu sắc về franchise và có thể áp dụng một cách toàn diện
và thành công mô hình này vào thực tế kinh doanh của doanh nghiệp, ngoại trừ vài
trường hợp hiếm hoi như Phở 24. Mặt khác, tại nước ta do những hạn chế về công
tác quản trị thương hiệu và các quy trình của hệ thống kiểm soát được tiêu chuẩn
hóa nên các doanh nghiệp chủ yếu đang áp dụng mô hình franchise không toàn
diện, đặc biệt theo phương thức nhượng quyền phân phối sản phẩm, dịch vụ như
thegioididong, Foci, Trung Nguyên…
4. Lợi ích của nhượng quyền thương mại
4.1 Mua Franchising
Ít rủi ro nhất
Lợi ích ban đầu của việc thuê nhượng quyền là mang tính ít rủi ro. Với tỉ lệ
thất bại 90% trong 3 năm đầu, việc bắt đầu một sự nghiệp mới với một thương
hiệu mới là khá nguy hiểm.
Khi bạn xem xét tại sao lại có nhiều thương hiệu lại gặp thất bại, bạn sẽ
thấy lý do cơ bản là người chủ không chỉ đưa ra sản phẩm hay dịch vụ của
mình mà còn phải nắm bắt được quá trình hoạt động, tìm và tiến tới mục tiêu
của khách hàng và đạt được mục tiêu kinh doanh đã đặt ra.
Việc thuê nhượng quyền sẽ giảm thiểu những rủi ro mà thực tế kinh doanh
đưa ra nhờ lợi thế cạnh tranh của nơi nhượng quyền, tăng những hiệu quả của
nó với sự hỗ trợ từ phía thương hiệu mạnh và marketing, địa điểm và đào tạo.
Bạn có trở thành ông chủ một chi nhánh có những hệ thống cung cấp gắn liền.
Thử trước khi mua
Một lý do khác để mua nhượng quyền là đầu tư vào chi nhánh được nghiên
cứu kỹ lưỡng trước khi đưa vào tiêu thụ. Các chi nhánh hiện nay đưa ra nhiều
thông tin về ngành kinh doanh bởi vậy mà người được nhượng quyền mới có
thể thử sức trước khi mua để chắc chắn là nó có phù hợp với họ không.
9
Nơi nhượng quyền kinh doanh có tiếng tăm thường bán dạng ngành kinh
doanh đã được thử thách, đã được xác định rõ hoặc phương thức hoạt động,
đưa ra sản phẩm hay dịch vụ đã được bán thành công. Một ngành kinh doanh
độc lập phụ thuộc vào cả ý tưởng và quá trình hoạt động chưa được thử
nghiệm.
Sức mạnh buôn bán theo nhóm
Người được nhượng quyền có thể mua các mặt hàng với giá thấp thông qua
nơi nhượng quyền, thắng lợi khả năng buôn bán theo nhóm của tất cả người
được nhượng quyền. Nơi nhượng quyền thương hiệu có sẵn thường có sự công
nhận của quốc gia hay địa phương.
Trong khi điều này có thể không đúng đối với chi nhánh mới, lợi nhuận khi
bắt đầu là 1 điều tất yếu để phát triển nó thành ngành kinh doanh và tên tuổi
được thành công.
Sự trung thành của người tiêu dùng
Nhượng quyền kinh doanh sẽ cung cấp 1 hệ thống nhất quán trong quá trình
hoạt động. Nhờ vậy mà người tiêu dùng sẽ được nhận chất lượng và giá trị sử
dụng đồng đều, có hiệu quả và mang lại lợi nhuận. Một hệ thống nhất quán
mang lại những ưu điểm của lợi thế theo qui mô, nhận diện thương hiệu, lòng
trung thành của khách hàng, tận dụng những dạng thức đã được công nhận.
Áp dụng mô hình kinh doanh đã được thiết lập
Nơi cung cấp quyền kinh doanh cũng sẽ cung cấp hoạt động hỗ trợ quản lý,
bao gồm thủ tục tài chính, nhân viên, qui trình quản lý. Một cá nhân với kinh
nghiệm trong các lĩnh vực có thể không đồng nghĩa với việc biết cách áp dụng
chúng 1 ngành kinh doanh mới. Người cấp quyền kinh doanh sẽ giúp đỡ các
chi nhánh vượt qua sự thiếu kinh nghiệm.
Kế họach phát triển kinh doanh của nơi cấp quyền kinh doanh sẽ giúp các
chi nhánh phát triển kế họach kinh doanh. Rất nhiều yếu tố của kế họach là
những thủ tục tiêu chuẩn được đặt ra bởi nơi cấp quyền kinh doanh. Những
phần khó khăn nhất là khi bắt đầu, thậm chí đối với cả những người quản lý
kinh nghiệm nhưng thiếu kiến thức để tạo lập một ngành kinh doanh mới.
Hỗ trợ marketing chuyên nghiệp
Một trong những thuận lợi lớn nhất của việc cấp quyền kinh doanh là họat
động marketing hỗ trợ từ phía chủ nhượng quyền. Nơi cấp quyền kinh doanh
10
có thể chuẩn bị và trả chi phí cho việc phát triển những chiến dịch quảng cáo
chuyên nghiệp. Việc marketing trong phạm vi quốc gia hay địa phương đều có
lợi cho tất cả các chi nhánh.
Thêm nữa, nơi cấp quyền kinh doanh có thể đưa ra những lời khuyên làm
thế nào để phát triển chương trình marketing có hiệu quả cho một vùng thông
qua quỹ marketing, điều này có thể giúp các chi nhánh chia sẻ chi phí trong
nguồn thu nhập của họ.
4.2 Bán Franchising
Nhân rộng mô hình kinh doanh. Có lẽ hầu như doanh nghiệp nào cũng
muốn nhân rộng mô hình kinh doanh của mình một khi đã được chứng minh là
thành công. Khó khăn lớn nhất thường liên quan đến ngân sách hay khả năng
tài chính vì doanh nghiệp nào dù thành công đến đâu cũng có một giới hạn, đặc
biệt là khi doanh nghiệp muốn đưa thương hiệu mình vươn ra khỏi ranh giới
một thành phố hay quốc gia. Ngoài vấn đề ngân sách, các yếu tố khác như yếu
tố địa lý, con người, kiến thức và văn hóa địa phương… cũng là những trở ngại
không nhỏ. Phương thức nhượng quyền kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp chủ
thương hiệu chia sẻ những khó khăn nêu trên cho bên mua franchise, bên sẽ
chịu toàn bộ phần đầu tư của cải vật chất và tự quản trị lấy tài sản của mình.
Và một khi mô hình kinh doanh của doanh nghiệp được nhân rộng nhanh
chóng thì giá trị của công ty hay thương hiệu cũng lớn mạnh theo. Đối với các
doanh nghiệp Việt Nam đang có tham vọng đưa thương hiệu mình ra thế giới
nhưng chưa đủ lực để đầu tư trực tiếp thì mô hình nhượng quyền có lẽ là phù
hợp nhất do không phải bỏ vốn mà lại bảo hộ và quảng bá được thương hiệu
của mình.
Tăng doanh thu. Chủ thương hiệu hoàn toàn có thể cải thiện doanh số của
mình bằng việc nhượng quyền sử dụng thương hiệu và công thức kinh doanh
mà ngày nay đã được xem như là một thứ tài sản quý giá nhất của một doanh
nghiệp. Thông qua hình thức nhượng quyền kinh doanh, chủ thương hiệu có
thể nhận các khoản tiền sau đây từ việc bán franchise:
 Phí nhượng quyền ban đầu (initial fee/upfront fee): Phí này chỉ được
tính một lần như đối với trường hợp McDonald’s là 45.000USD khi được
11
nhượng quyền kinh doanh trong nước Mỹ. Đây là khoản phí hành chính, đào
tạo, chuyển giao công thức kinh doanh cho bên mua franchise.
 Phí hàng tháng (monthly fee): Phí này là phí mà bên mua franchise
phải trả cho việc duy trì sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu của bên bán franchise
và những dịch vụ hỗ trợ mang tính chất tiếp diễn liên tục như đào tạo huấn
luyện nhân viên, tiếp thị, quảng bá, nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới… Phí
này có thể là một khoản phí cố định theo thỏa thuận của hai bên hoặc tính theo
phần trăm trên doanh số của bên mua franchise và thường dao động trung bình
từ 3 – 6% tùy vào loại sản phẩm, mô hình và lãnh vực kinh doanh. Tại Mỹ, chỉ
có khoảng 8% các cửa hàng nhượng quyền là không phải trả phí hàng tháng
này (còn gọi là royalty fee). Ngoài phí hàng tháng ra, nhiều chủ thương hiệu
còn có thể tính thêm một khoản phí quảng cáo (advertising fee) tương đương 1
– 3% doanh số.
 Bán các nguyên liệu đặc thù: Nhiều chủ thương hiệu yêu cầu các đối
tác mua franchise của mình phải mua một số nguyên liệu đặc thù do mình cung
cấp, vừa để đảm bảo tính đồng bộ của sản phẩm hay mô hình kinh doanh, vừa
mang lại một nguồn lợi nhuận phát triển song song với tình hình kinh doanh
của bên mua franchise. Ví dụ như McDonald’s cung cấp và bán cho các cửa
hàn

[block id=”bo-sung”]

Từ khóa: Tiểu luận Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *